YOUTH CORNER
GIỜ LỄ / MASS SCHEDULE
Thánh Lễ Giáo Xứ
- Ngày thường: 6:30 a.m; 6:30 p.m

Thánh Lễ Chúa Nhật
- Thứ Bẩy 6:00 p.m
- Chúa Nhật 7a.m; 8:30a.m; 10:30a.m
- Lifeteen Mass 6:00 p.m

Xưng Tội
Ngày thường 30 phút trước lễ
Thứ Bẩy 5:00 p.m – 5:45 p.m

SINH HOẠT GIÁO XỨ

Lịch trình sinh hoạt

Thứ Bẩy ngày 6-8-2016 Nguyệt Hội Huynh Đoàn Đaminh và Mừng Lễ Thánh Đaminh, khấn dòng

Chúa Nhật 7 tháng 8 khai giảng lớp Tìm Hiểu Đức Tin Công Giáo (lớp tân tòng và Thêm sức người lớn)
+ Nhà trường ghi danh học giáo lý và việt ngữ

Thứ Bẩy 20-8 Đại Hội Giáo Lý

Thứ Bẩy 10-9 Khai giảng các lớp Việt Ngữ và Giáo Lý
30/9-2/10 Khóa Dự Bị Hôn Nhân

CHÀO MỪNG QÚY VỊ

THÔNG BÁO

Thông báo của Ủy Ban Bầu Cử
Hội Đồng Mục Vụ nhiệm kỳ 2016 – 2019

Trong phiên họp của Hội Đồng Mục Vụ vào tháng 6 vừa qua, Ủy Ban Bầu Cử Hội Đồng Mục Vụ nhiệm kỳ 2016 – 2019 đã được thành lập. Ủy Ban Bầu Cử xin được thông báo

 

I. Lịch trình bầu cử

Tháng 9:

  • Ngày 11: Phát phiếu Ứng Cử/ Đề Cử
  • Ngày 25: Nhận phiếu Ứng Cử/ Đề Cử

Tháng 10:

  • Ngày 2: Nhận phiếu Ứng Cử/ Đề Cử
  • Ngày 9: Niêm yết Danh sách Ứng Viên
  • Ngày 16: Nhận thư khiếu nại (nếu có)
  • Ngày 23: Gởi thư mời các Ứng Cử/ Đề Cử
  • Ngày 30: Họp các ứng viên để chọn thành viên

Tháng 11:

  • Ngày 6: Niêm yết Danh sách trúng cử
  • Ngày 13: Dịp Lễ Các Thánh Tử Đạo: Tân Hội Đồng Mục Vụ tuyên thệ nhậm chức

  II. Tiêu chuẩn Ứng Viên

  • Ghi danh trong Giáo Xứ
  • Đã từng dấn thân trong các sinh hoạt của Giaso Xứ
  • Thông hiệp cùng Hội Thánh
  • Có ước muốn tăng trưởng thiêng liêng
  • Sẵn sàng dùng thời giờ, sức lực, khả năng để phục vụ

III. Cử Tri

  • 18 tuổi trở lên
  • Có tên trong danh sách Giáo Xứ

IV. Ứơc mong

  • Các bạn trẻ và nhiều khuôn mặt mới hăng say góp phần vào chương trình mục vụ của Giáo Xứ

Trưởng Ban: Thầy Sáu Giuse Nguyễn Phẩm

Thành Viên:  

  • Ông Bùi Đình Thước – ĐT Huynh Đoàn ĐaMinh
  • Ông Vũ Túc – ĐT Đòan Liên Minh Thánh Tâm
  • Bà Nguyễn thị Phúc Kathy - HT Hội Các Bà Mẹ CG
  • Ông Nguyễn Phú - Hội trưởng Hội Legiô Mariae
  • Ông Nguyễn Văn Triệu – ĐT Đoàn Tông đồ Fatima
  • Ông Tạ Văn Minh - HT Hội Thánh Phêrô – Phaolô
  • Anh Nguyễn Anh Tuấn – Đoàn Thiếu Nhi Thánh Thể
Ngày 04-9-2016 * Chúa Nhật 23 Mùa Thường Niên * “ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”(Lc 14,32)

Ngày 04-9-2016
Chúa Nhật 23 Mùa Thường Niên
“ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”(Lc 14,32).
Đoạn Tin Mừng có những lời lẽ không được êm dịu cho lắm.
 “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được.”(Lc 14,26)
“Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”(Lc 14 27).
 “Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”(Lc 14,32).
Qua những lời như thế Chúa muốn nói điều gì?
- Chúa muốn bảo theo Chúa thì phải từ bỏ.
- Chúa muốh nói theo Chúa thì phải vác thánh giá.
Nói một cách khác gọn nhẹ hơn, chính xác hơn đó là phải hy sinh. Muốn theo Chúa thì phải hy sinh. Sự hy sinh được cụ thể qua việc từ bỏ và vác thánh giá.
1. Trước hết Chúa đòi chúng ta phải từ bỏ.
Chúng ta thấy cuộc đời của Chúa đã là như thế.
Chúa từ bỏ cuộc sống trên trời để xuống thế làm người, Đời sống của Chúa nơi trần thế cũng là đời sống từ bỏ mọi sự. Chúa đã từng nói: “Con cáo có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ tựa đầu”.
Đến mạng sống của Chúa, Chúa cũng hy sinh luôn, hy sinh trong đau thương và đầy nhục nhã. Chúng con đã thấy điều đó.
Chính vì thế mà Chúa muốn những người theo Chúa cũng phải như vậy. Làm môn đệ là phải từ bỏ đến tận cùng.
Từ bỏ đến cùng, là từ bỏ đến cả những gì riêng tư nhất của mình.
Trong sách Sự tích của thánh Antôn tu rừng, người ta đọc được câu chuyện này:
Một hôm có người đến muốn xin làm môn đệ của Ngài, Ngài hỏi:
- Ở ngoài thế gian con làm nghề gì?
- Thưa con làm nghề đan thúng.
- Vậy con cũng hãy đan cho cha một cái thúng.
Đan xong, đem dến cho Ngài. Ngài xem tới xem lui rồi dạy tháo ra.
Hôm sau Ngài cũng dạy như thế – Người đó đem về đan.. rồi đem đến.. rồi cũng lại phải tháo ra.
Bữa thứ 3 Ngài cũng dạy y như thế ……rồi lại cũng cố làm... khi đem lại Ngài cũng lại bảo tháo ra. Anh ta bực mình cho là làm mất thời giờ vô ích. Lúc đó thánh Antôn mới nói:
- Hỡi con, con hãy về nhà con đan thúng và làm tôi Chúa như những người khác – Còn việc con ước ao vào dòng thì không được vì con thiếu một điều cần nhất là bỏ ý riêng của con.
Rồi chẳng bao lâu có người khác cũng xin đi tu – như lần trước: con làm nghề gì?
Biết là người đó làm nghề nông nên thánh Antôn dạy ra đào cho ngài một chiếc hầm vuông vắn.…mỗi bề một thước, bề mặt cũng như bề sâu.
Người đó vui vẻ đào – Ngài lại dạy lấp đi.
Lần 2 cũng như thế.
Lần 3 cũng vậy... người đó vui vẻ lấp đi không có một lời than trách.
Sau, thánh Antôn kêu người đó lại và nói:
- Hỡi con, từ nay cha nhận con vào dòng và con hãy nhớ điều này là bao lâu con sống trong dòng việc trước hết là con phải lo thắng mình con và vâng lời cho trọn. Được như vậy con sẽ có phúc ở đời này và đời sau.
 2. Điều thứ hai: vác Thánh Giá.
Thánh giá đây không phải chỉ là cây Thánh giá bằng gỗ như cây Thánh giá ngày xưa người ta đã dùng để đóng đinh Chúa trên đó. Thánh giá đây còn phải hiểu là những gánh nặng của bổn phận, những khổ đau của cuộc sống, những thử thách vì nhiệm vụ mà một người môn đệ phải chấp nhận trên con đường theo Chúa.
Chẳng hạn như cuộc đời của Đức Mẹ, chúng con thấy khi Đức Mẽ đã chấp nhận nhiệm vụ trờ thành mẹ Chúa Cứu Thế, chúng con thấy Đức Mẹ đã phải chịu biết bao nhiêu là khổ đau, biết bao nhiêu là vất vản để chương trònh của Chúa được thực hiện.
Rồi như Thánh Phaolô chúng con thấy, vì người đã chấp nhận làm môn đệ của Chúa, cho nên người đã phải bị tù đày vì Chúa – bị xiềng xích vì Tin Mừng.
Tù đày có ai mà ham? Bị xiềng xích có ai mà muốn – nhưng khi cần phải chấp nhận như là một việc phải làm vì bổn phận thì thánh Phaolô đã vui mừng.
Một hôm, Chúa Giêsu hiện ra cho hai trong số các môn đệ của Ngài, đưa họ đến đầu một đường rồi trao cho mỗi người một cây thánh giá giống nhau và nói:
- Mỗi người các con hãy vác thánh giá này và đi đến cuối đường trước mặt, Thầy sẽ đợi các con ở đó.
Nói xong, Chúa biến đi. Và hai môn đệ bắt đầu vác lấy thánh giá của mình.
Người thứ nhất xem ra vác nhẹ nhàng, chân rảo bước mỗi lúc một nhanh. Nội trong ngày, anh đã đến cuối đường và vui mừng gặp Chúa Giêsu đã đứng chờ sẵn ở đó.
Còn người thứ hai thì mãi chiều hôm sau mới đi hết con đường, xem ra anh mệt mỏi, không còn vác, nhưng kéo lê thánh giá mỗi lúc một nặng thêm, làm anh gần kiệt sức. Vừa gặp Ngài, anh phàn nàn ngay:
- Chúa đối xử bất công quá, Chúa cho con cây thánh giá nặng, còn anh kia Chúa cho thánh giá nhẹ, nên anh đã đến trước con lâu như vậy.
Gương mặt vui tươi của Chúa bỗng trở nên nghiêm nghị, Ngài nói:
- Này con, Ta không đối xử bất công đâu, hai cây thánh giá giống nhau và nặng như nhau. Con đừng trách thánh giá nặng nhẹ, nó trở nên nặng là vì tâm hồn con ngay từ đầu và trong suốt quãng đường Ta đã chỉ, con luôn than phiền và càng than phiền thì thánh giá càng trở nên nặng nề. Người bạn đồng hành của con đến trước vì tâm hồn lúc nào cũng tràn đầy yêu thương.
Tình yêu làm cho thánh giá trở nên nhẹ nhàng. Khi nhìn lại kinh nghiệm về ơn Chúa trong cuộc đời mình, thánh Phaolô Tông đồ đã tâm sự với các tín hữu Rôma bí quyết sống sau đây
“Chúng ta biết rằng trong mọi sự, Thiên Chúa cộng tác vào để đem mọi lợi ích cho những ai yêu mến Ngài”
Chúa Giêsu đòi hỏi những ai muốn theo làm môn Ngài phải từ bỏ vác lấy thập giá:  “Ai không vác thập giá mình, thì không đáng làm môn đệ Ta. Ai theo Ta mà không ghét cha mẹ, vợ con, thì không đáng làm môn đệ Ta. Ai không từ bỏ của cải thì không đáng làm môn đệ Ta “.
Xin Chúa cho chúng ta hiểu rằng muốn theo Chúa thì phải biết vượt lên trên giới hạn hẹp hòi của ích kỷ, của mầu da, chủng tộc. Ai muốn theo Chúa thì làm tất cả vì cộng đồng nhân loại. Ai muốn theo Chúa thì phải sử dụng mọi sự để làm ích cho anh chị em. Xin cho tâm hồn chúng ta được tràn đầy tình yêu Chúa để Thánh giá Chúa muốn chúng ta vác mà đi theo Chúa sẽ trở nên nhẹ nhàng cho chúng ta.   Lm Đinh Tất Qúy

Bức họa chân dung Mẹ Têrêsa tại lễ phong thánh

Bức họa chân dung
Mẹ Têrêsa tại lễ phong thánh

Một bức chân dung lớn của Chân phước Mẹ Têrêsa được treo trước tiền đường Đền thờ Thánh Phêrô dịp lễ tôn  phong Mẹ lên hàng hiển thánh. Đó là bản copy của bức họa chân dung do họa sĩ Chas Fagan vẽ.
Họa sĩ Chas Fagan là người đã vẽ chân dung của tất cả các tổng thống Mỹ và các tác phẩm tại mái vòm tòa nhà trụ sở Quốc hội Hoa kỳ cũng như tại Nhà thờ chính tòa quốc gia. Ông đã được Hội hiệp sĩ Columbus chọn vẽ chân dung chân phước Mẹ Têrêsa. Họa sĩ Fagan đã lập tức nhận lời vẽ chân dung Mẹ khi được Hội Columbus yêu cầu nhưng không nghĩ là tác phẩm của ông sẽ là bức họa chính thức được treo trong lễ phong thánh của Mẹ Têrêsa.
Họa sĩ Fagan đã phải mất một tháng trời để chuẩn bị các phác họa trước khi bắt đầu vẽ, và đã hoàn thành bức họa sau 6 tuần làm việc. Bức họa diễn tả niềm vui và lòng vị tha của Mẹ Têrêsa. Họa sĩ Fagan cho biết, đầu mối của ý tưởng của bức họa chính là câu trưng dẫn của Mẹ Têrêsa “niềm vui là sức mạnh”. Ông nói: “Mẹ là một nhân vật nhỏ bé nhưng làm trái đất rung chuyển” và người ta nói với ông: “khi Mẹ nhìn vào bạn, Mẹ chói sáng rạng rỡ”. Vì vậy ông đã cố gắng diễn tả điều này trong bức họa. Ông giải thích về bức tranh: “Nếu bạn muốn làm cho một điều gì đó chói sáng, bạn phải bao quanh nó bằng bóng tối”.
Một điều nữa trong cuộc sống của Mẹ Têrêsa cũng đánh động họa sĩ Fagan, đó là sự vị tha của Mẹ. Ông chia sẻ: “Có một chủ đề mà người hướng dẫn của ông thời gian ông còn là một học sinh trung học đã nói với ông, đó là “nếu bạn bắt đầu giúp đỡ người khác, bất cứ vấn đề gì của bạn sẽ bắt đầu biến mất”. Họa sĩ nhận xét: Mẹ Têrêsa đã sống điều này. Khi học về cuộc sống của Mẹ và nhìn thấy cách sống hàng ngày của Mẹ, nó thật khiêm nhường đơn giản và tất cả chúng ta có thể mong muốn nó. Nhưng nó là một bước nhảy vọt”.
Họa sĩ Fagan đã có thể cảm thấy sự hiện diện của mẹ thánh Têrêsa trong phòng vẽ của mình khi đang vẽ bức họa. Đối với ông, Mẹ Têrêsa đã mang lại niềm vui cho phòng vẽ của ông, cho ngôi nhà của ông và khi hoàn thành bức họa, họa sĩ cảm thấy tiêc nuối vì sẽ cảm thấy thiếu sự đồng hành của Mẹ.
Bức họa được bắt đầu trưng bày vào hôm 1 tháng 9 tại đền thánh quốc gia Gioan Phaolô II ở Washington. Nữ tu Tanya, dòng Thừa sai Bác ái, phụ trách cộng đòan Thừa sai bác ái Quà tặng Bác ái và Hòa bình ở Washington nhận xét: “Bức họa tuyệt vời; nó sẽ đưa nhiều người đến gần Thiên Chúa”. Chị cũng nhận xét thêm việc phác họa đôi mắt thông suốt  của Mẹ, sự thanh bình và sự chăm chú vào người mà Mẹ đang nhìn. Chị nói: “Nếu một người nhìn vào Mẹ, họ sẽ hướng mắt họ về trời, tôi sẽ nói, bởi vì Mẹ không tập trung vào mình. Người nhìn mẹ sẽ hướng tâm đến Thiên Chúa.”
Hội hiệp sĩ Columbus đã trả chi phí cho bức hoạ và sẽ phân phát một triệu tấm thiệp cầu nguyện với chân dung của Mẹ cho các khách hành hương đến Roma.
Hồng Thủy

HY SINH BÙ LẠI

HY SINH BÙ LẠI
 Mẹ Têrêsa kể: Một người phụ nữ đến với tôi, vừa khóc vừa kể lể:
 - Tôi có đứa con đã 3 tuổi rồi mà nó không biết nói.
 - Bà có cái gì bà rất thích bà có thể bỏ đi được không?
 - Có, tôi có cái tôi rất thích: nhai trầu, tôi nhai trầu cả ngày.
 - Rồi, bây giờ bà bỏ nhai trầu đi, dâng hi sinh này cho Chúa, bà xin một ơn lớn, bà cũng phải hi sinh một điều lớn để đánh đổi.
 Mẹ Têrêsa nói: hi sinh của bà kia đã có kết quả lạ. Bà ta trở lại cám ơn Mẹ Têrêsa,bà nói:
 - Bây giờ con tôi nói được rồi.
 23. CUOI VỚI BẤT CỨ AI
 Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại như sau:
 Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.
 Tôi liền bảo họ: “Quí vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quí vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương.
 Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:
 - Bà có lập gia đình không?
 Tôi gật đầu và nói:
 - Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.
 Và mẹ Têrêsa kết luận:
 - Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài.
 24. THẤP ĐÈN CHO AI
 Mẹ Têrêsa thành Calcutta kể:
 Ở Úc Châu có một người thổ dân (Aborigine) sống trong một hoàn cảnh thật thảm thương. Ông ta đã cao niên rồi. Từ bao năm tháng ông chỉ một thân một mình cô đơn trong túp lều tối tăm xiêu vẹo. Lần đầu tới thăm ông, tôi đề nghị:
 - Ðể tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường chiếu lại cho ông.
 Ông ta hờ hững nói:
 - Tôi đã quen sống như vậy rồi.
 Nhưng tôi bảo ông:
 - Tuy vậy, ông sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp.
 Sau cùng ông ta bằng lòng để tôi dọn dẹp lại nhà cửa cho ông. Trong khi quét dọn tôi thấy một cái đèn cũ, đẹp nhưng phủ đầy bụi bẩn.
 Tôi hỏi ông:
 - Có bao giờ ông thắp đèn này không?
 Ông ta trả lời với giọng chán ngán:
 - Nhưng thắp đèn cho ai? Có ai bước chân vào nhà này bao giờ đâu. Tôi sống ở đây đã lâu rồi mà chẳng hề trông thấy một ai cả.
 Tôi hỏi ông:
 - Nếu như các nữ tu đến thăm ông thường xuyên, ông có bằng lòng thắp đèn lên không?
 Ông vui vẻ đáp:
 - Dĩ nhiên rồi.
 Từ hôm đó, các nữ tu của chúng tôi quyết định mỗi chiều sẽ ghé qua nhà ông. Cũng từ đó, ông ta bắt đầu thắp đèn và dọn dẹp căn lều cho sạch sẽ hơn.
 Ông còn sống thêm hai năm nữa, Trước khi chết ông nhờ các nữ tu nhắn tin cho tôi, ông nói:
 - Xin nhắn với mẹ Têrêsa bạn tôi rằng, ngọn đèn mà mẹ đã thắp lên trong đời tôi vẫn còn chiếu sáng. Ðó chỉ là một việc nhỏ, nhưng trong bóng tối cô đơn của đời tôi, một tia sáng đã chiếu lên và vẫn còn tiếp tục sáng mãi.
Tại Melbourne, bên Úc, chúng tôi có “nhà chia sẻ”. Trong nhà đó có những người không thân nhân, những người từ ngoài đường phố, những người có thể bị tù tội, những người lấy vỉa hè làm nhà. Một trong những người ấy bị người khác đả thương, người ấy cũng đang ở trong “nhà chia sẻ”, vì vết thương rất nặng, một người hỏi ông ta: Ai đã đánh ông? Nhưng người bị thương không nói tên người đánh ra. Khi người hỏi đi rồi, tôi hỏi ông ta: Sao ông không nói tên ai đánh ông? Người này trả lời: “Sự khổ của ông ta cũng không làm giảm sự khổ của tôi”. Đó chính là điều Chúa Giêsu muốn nói: “ Hãy yêu thương nhau như Thầy đã thương yêu các con.”
27. HÃY QUAN TÂM TỚI NGƯỜI KHÁC
Mẹ Têrêsa kể:  - Tất cả chúng ta muốn yêu mến Chúa. Nhưng yêu thế nào, yêu ở đâu. Chính Chúa đã dạy: “Điều gì các con làm cho kẻ rốt hèn là làm cho chính Ta”.
 Vào cuối đời, ta sẽ bị phán xét về nền tảng của tình yêu đối với nhau, về những việc ta đã làm cho người đói, người trần, người không nhà.
 Đói ở đây là gì? Có phải là đói ở Phi châu, ở Ấn độ, nơi nhiều người đói một miếng bánh, một chén cơm không? Đúng, nhưng cũng là đói tình yêu thương, đói được người khác quan tâm. Hãy quan tâm tới người khác. Điều kinh hãi là bị bỏ rơi. 
Một hôm, khi tôi đi bộ trên đường phố tại London, tôi thấy một người ngồi một mình, trông rất cô đơn. Tôi bước tới và giơ tay bắt tay ông ta. Tay tôi ấm áp, ông kêu lên: Ồ, sau bao nhiêu lâu, nay tôi mới được cảm thấy ấm áp của tình người”. Rồi mặt ông ta sáng lên. Ông ta không còn giống như lúc trước nữa. Cái nồng ấm của bàn tay con người là chuyện nhỏ, nhưng qua cái đó, ông ta cảm thấy có ai thực sự quan tâm tới ông, có ai thực sự săn sóc cho ông. từ trước, tôi chưa bao giờ để ý rằng: một việc nhỏ có thể đem niềm vui lớn cho người nào đó.
Gary Cooper, tài tử nổi tiếng người Mỹ trở lại Công Giáo
Gary Cooper là một tài tử xi nê rất quen thuộc với người Việt Nam, nhất là những người thuộc thế hệ lớn tuổi. Ông nổi tiếng thế giới với những phim ảnh hoành tráng trong đó ông thủ vai chính. Hai lần đoạt giải Oscar, Gary Cooper là thần tượng của biết bao thế hệ người trẻ toàn thế giới.
Gary Cooper sinh ngày 07 tháng 5 năm 1901 tại Montana bên Mỹ, trong một gia đình điền chủ gốc người Anh. Khi bố mẹ chia tay nhau, Gary lúc ấy còn mang tên Frank James, theo mẹ về sống tại Anh quốc cho đến năm 13 tuổi mới sang Mỹ sống với bố trong trang trại ở Montana. Mộng ước của anh khi ấy là được trở thành một họa sĩ, đặc biệt là vẽ biếm họa chính trị. Năm 1924, anh dời về sống tại Los Angeles, với ước nguyện trở thành một nhà kinh doanh các tác phẩm nghệ thuật, nhưng không thành công. Ba tháng sau đó, anh xin đi đóng phim để có tiền sinh sống. Thế nhưng dáng vẻ hào hùng, nét đẹp quý phái đã làm các nhà đạo diễn chú ý, mời anh cộng tác. Hãng phim Paramount ký giao ước cộng tác lâu dài và anh đổi tên từ Frank James thành Gary, vốn là tên của một thành phố bang Indiana, nổi tiếng về lối sống anh hùng cứng rắn hồi ấy. Sự nghiệp điện ảnh của Gary Cooper nổi lên như cồn kể từ ngày ấy. Anh đóng vai chính trong hơn 100 cuốn phim, năm lần được đề nghị giải Oscar và hai lần được nhận giải này. Gary bay nhảy từ người đẹp này sang bạn gái khác, người nào cũng sắc nước hương trời. Vì đẹp trai lại hào hoa phong nhã, Gary bước ngay vào vòm trời điện ảnh, tỏa sáng như một vì sao.
Năm 1933, Gary Cooper gặp Veronica Balfes, một thiếu nữ trẻ đẹp thuộc hàng thượng lưu New York, cháu gái của nhà đạo diễn Cedric Gibbons. Veronica cũng đã từng thủ một vài vai diễn với tên gọi Sandra Shaw. Nhưng cô nổi tiếng là người công giáo sống Đức Tin nhiệt thành. Năm 1837, đôi vợ chồng này sanh cô con gái yêu đặt tên là Maria. Một sự kiện thật đáng chú ý, đó là đôi vợ chồng Gary Cooper và Veronica Balfe đã chung sống với nhau suốt đời không hề ly dị, mặc dù vài lần sau đó, Gary có bị cám dỗ suýt sa ngã mấy lần. Lần nào cũng thế, bà Veronica đều biết tha thứ hoán cải chồng mình. Chính Gary Cooper dã công nhận điều này, một sự lạ trong thế giới điện ảnh. Hơn thế nữa, sự chân thành sống các đạo lý công giáo của bà Veronica đã cảm hóa được tâm tính ông Gary để rồi Sự cảm phục này đã đưa ông đến quyết định xin trở lại giáo hội công giáo. Nhưng ông Gary vẫn còn chần chờ. Trong một lần gặp người bạn cố tri là văn hào Ernest Hemingway, ông thổ lộ tâm tình lưỡng lự của mình và hỏi ý kiến bạn xem nên làm sao. Gary chỉ sợ rằng mình bồng bột nhất thời, muốn theo gương vợ con cho họ vui lòng, nhưng rồi không biết có trọn lòng giữ đạo nổi không. Hemingway trả lời: Bạn hỏi ý kiến một người công giáo lỗi phạm thiếu sót như tôi làm gì? Làm sao tôi khuyên nhủ bạn được khi chính tôi thiếu sót nhiều về vấn đề này. Nhưng bạn cứ yên tâm, tôi nghĩ rằng mọi sự sẽ rất tốt đẹp.
Năm 1958, Gary Cooper được ĐGH Pio 12 tiếp kiến tại Vatican và năm sau đó, ông xin trở lại Giáo Hội Công Giáo.
Năm 1960, tin dữ chợt đến. Khi thấy người mệt mỏi, Gary đi khám bác sĩ và biết là mình bị ung thư đã vào giai đoạn cuối. Vị bác sĩ khám ông hôm ấy thuật lại rằng khi nghe tuyên bản án tử, ông Gary đã lặng người một lúc lâu, rồi thốt lên “Nếu đó là ý Chúa, tôi xin chấp nhận. “Vài ngày trước khi qua đời, trên giường chết, ông Gary thều thào nói với người bạn văn sĩ nổi tiếng Hotcher như sau: Trở lại công giáo là điều tốt đẹp nhất mà tôi đã thực hiện được trong đời. Gary Cooper nhắm mắt từ giã cõi đời ngày 13.05.1961. Nhà đạo diễn Zinneman, trong nghi lễ tưởng niện Gary Cooper đã nói: Chúng ta vừa chứng kiến cái chết của một người chính trực và của một tín hữu kitô.  Nguồn: Vietvatican