YOUTH CORNER
GIỜ LỄ / MASS SCHEDULE
Thánh Lễ Giáo Xứ
- Ngày thường: 6:30 a.m; 6:30 p.m

Thánh Lễ Chúa Nhật
- Thứ Bẩy 6:00 p.m
- Chúa Nhật 7a.m; 8:30a.m; 10:30a.m
- Lifeteen Mass 6:00 p.m

Xưng Tội
Ngày thường 30 phút trước lễ
Thứ Bẩy 5:00 p.m – 5:45 p.m

SINH HOẠT GIÁO XỨ
  • Thứ Hai 31/10 Lễ Vọng Các Thánh - lễ buộc
  • 7:30 Lẽ Các Thánh Nam Nữ - có phát kẹo Halloween
  • Thứ Ba 1/11 Lễ Trọng Kính Các Thánh Nam Nữ, lễ buộc (6:30 AM, 9:30 Am và 7:30 PM)
  • Thứ Tư 2/11 LỄ Cầu Cho Các LINH HỒN 6:30 AM, 9:30 AM, và 7:30 PM)
  • Thứ Bẩy 5/11 Cha xứ dẫn đoàn hành hương đi âu châu
  • Chúa Nhật 6/11 Giáo Xứ Bán Hàng
  • Chúa Nhật 13/11 Giáo Xứ Bán Hàng

 

  • Thứ Tư - Năm  16-17/11  GIÁO XỨ TĨNH TÂM
  • Cha Vincent Nguyễn Vương giảng
  • Thứ sáu 18/11 Giáo Xứ Thống Hối - ơn toàn xá kết thúc năm thánh LTX tại giáo xứ có nhiều linh mục giải tội
  • Thứ Bẩy 19/11
  • Ban sáng Tĩnh Tâm Giới Trẻ
    Sau Trưa các em xưng tội
    6:00 Diễn Nguyện Kính Các hánh TĐVN
    7:00 Thánh Lễ Đại Trào

 

  • Chúa Nhật 34. Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ
  • 7:00 Lễ sớm
    9:00 Hôn Xuơng Thánh
    9:30 Rước kiệu
  • 10:00 Thánh Lễ Đại Trào
    11:30 Tiệc mừng và liên hoan
  • KHÔNG CÓ LỄ BAN CHIỀU
CHÀO MỪNG QÚY VỊ
Ngày 30-10-2016 * Chúa Nhật 31 Mùa Thường Niên * Sám hối

Khi còn học giáo lý rước lễ ở họ đạo, tôi được cha sở dạy rất kỹ về những việc mà hối nhân phải làm trước khi xưng tội gồm có: thật lòng ăn năn, xưng tội và thành tâm đền tội. Nhưng trong 3 việc đó thì ăn năn tội là điều quan trọng nhất. Ví ăn năn tội là đau đớn trong lòng và chê ghét tội đã phạm, dốc lòng chừa từ nay không phạm tội nữa. Tương tự như thế hình ảnh Giakêu trong bài Tin Mừng hôm nay cũng cho chúng ta một bài học về “sám hối”. Đó chính là tấm lòng mà Thiên Chúa luôn cần nơi mỗi người và đặc biệt trong cuộc sống mỗi người phải biết sám hối vì “nhân vô thập toàn”.

Có câu chuyện kể rằng một cha sở nọ nằm mơ, thấy Đức Giêsu thăm giáo dân đang tụ họp trong nhà thờ. Khi Đức Giêsu ra về khuôn mặt Ngài rất vui và hớn hở. Cha mới chạy theo hỏi Đức Giêsu tại sao thế? Và Chúa đáp: vì có những người nói những lời hết sức đẹp ý Ta. Thưa Chúa đó là những lời nào vậy, những lời chúc tụng ngợi khen ư? Không phải. Vậy những lời ta ơn tri ân cảm tạ phải không? Chúa trả lời cũng không đúng nữa. Không chịu thua cha sở nọ lại hỏi tiếp: hay là những lời cầu xin Chúa ban ơn này ơn no cho họ? Chúa Giêsu lắc đầu: con đoán sai cả rồi họ đã nói với ta: “Lạy Chúa xin hãy tha thứ tội lỗi chúng con”. Câu nói của Giakêu trong bài Tin mừng hôm nay, cũng có nội dung tương tự như thế và nó còn thể hiện việc sám hối bằng cả hành động nữa “thưa Ngài, này đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn”.

Do đâu mà những người giáo dân trong câu chuyện lại mau mắn sám hối như vậy. Vì lí do gì mà Giakêu lại quyết tâm hoán cải nhanh đến như thế. Chúng ta thấy cả hai đều có điểm chung là đã gặp được Chúa.
Vậy để có thể sám hối tôi thiết tưởng phải cần có những yếu tố sau:
1. Thiên Chúa mời gọi
Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và ông Giakêu đặt chúng ta vào trung tâm vấn đề cơ bản của lòng chúng ta, làm sao nối lại tình thân với Thiên Chúa sau khi tội lỗi đã làm ta xa cách Ngài? Làm sao nhìn thấy Chúa Giêsu khi giữa ta và Ngài còn một “khoảng đám đông” đang chen lấn, mà ta lại là người đang “nhỏ bé như Giakêu”. Chúng ta không nên quá lo lắng về điều đó, vì Thiên Chúa luôn quan tâm đến mỗi người, nhất là những người tội lỗi “vì con người đến để tìm kiếm và cứu chữa những gì đã hư mất” (Mt 19,10). Thiên Chúa không chờ ta quyết định đến với Ngài, Ngài đi bước trước và đến với ta trước. Hầu hết các sách Tin Mừng không trình bày việc gì khác ngoài việc Thiên Chúa đến với loài người và gặp gỡ họ. Như trong Bài Tin Mừng không phải Giakêu đã nhận ra Đức Giêsu trước, nhưng chính Đức Giêsu đã nhân ra Giakêu trên cây. Điều đó chứng tỏ Đức Giêsu đã quan tâm đến chúng ta hơn là chính Người. Đức Giêsu chỉ đi ngang qua Giêrikhô một lần thôi, Ngài cũng chỉ gặp Giakêu ở đó một lần thôi, nhưng trong đời chúng ta Ngài sẽ đến mãi trong từng giây phút, nếu ta chưa tiếp xúc được với Ngài.

Kinh nghiệm gặp gỡ Đức Giêsu của Giakêu như bài học kêu gọi mỗi người chúng ta hãy làm một cuộc sám hối như thế, và biết rằng sám hối là một đặc ân Chúa ban, chính Chuá là người đi bước trước và có sáng kiến chứ không phải nơi chúng ta, đó là tiếng gọi của Chúa mà chúng ta có bổn phận phải đáp lại.

2. Con người đáp trả
Thánh Augustinô đã nói: “Khi dựng nên con Chúa không hỏi con, nhưng khi dựng nên con Chúa phải hỏi con”, nghĩa là Thiên Chúa luôn cần đến sự cộng tác nơi con người, không những thế Thiên Chúa còn muốn con người cộng tác một cách chủ động và trưởng thành. Chúa không đòi ai cũng phải chờ đợi để leo lên cây sung, nhưng quan trọng là phải đi gặp Chúa trong chính hành động của mình. Giakêu luôn ao ước được gặp Chúa và chính lòng khao khát đó đã được Chúa cho thoã mãn. Nhưng để phá rào cản tội tội, rào cản mă#c cảm, và nhất là rào cản giữa con người với nhau thật sự không dễ chút nào. Chắc chắn Giakêu đã nghe Danh Đức Giêsu từ lâu và hằng ao ước đến chỉ để nhìn mặt thôi, nhưng kết quả thật không ngờ, ông được hưởng hơn những gì mà ông mong đợi và hơn thề nữa “ơn cứu độ đã đến cho nhà này”.
Giakêu được như vậy không phải do ông này nỉ, van xin, cũng không do công trạng lập được, lại không phải là một người tốt đáng khen, nhưng điều quan trọng là ông biết “đáp trả” lời Chúa mời gọi, trong khi những người được cho là tốt thì lại không biết làm. Như Giakêu chúng ta cũng hãy biết đáp trả tình yêu Chúa băng cách sám hối để được tha thứ và đổi mới cuộc đời, vì tình yêu Thiên Chúa luôn bai la rộng mở, dù chúng ta là ai, dù chúng ta đang sống trong hoàn cảnh nào, cuộc đời chúng ta có xấu đến đâu cũng không sao. Chúa sẽ tẩy xoá hết để mỗi người chúng ta sẽ là một giọt tình thường trong bể tình thương bao la của Chúa.

Lạy Chúa, xin cho con biết ăn năn sám hối mỗi ngày, để con xứng đáng đáp trả tình yê mà Thiên Chúa đã ban cho con. Amen.
Chúa đi vào tâm hồn
Starr Daily là một trong những người tiên phong cải cách chế độ lao tù ở Liên Hiệp Quốc. Anh là một tội nhân đã cải tà quy chánh.
Khi quan tòa kết án tù lần thứ ba cho anh, ông tuyên bố: - Có phạt anh thêm bao nhiêu nữa cũng vô ích, vì chúng tôi hoàn toàn vô vọng về anh.
Đúng vậy. Lần ở  tù thứ ba nầy. Daily càng tỏ ra vô kỷ luật hơn hai lần truớc nên bị nhốt riêng trong hầm tối. Mọi tù nhân khi bị biệt giam như thế thì rất đau đớn xấu hổ, nhưng đối với Daily thì vẫn là chuyện bình thường...
Nhưng rồi một ngày nọ, điều kỳ diệu đã đến với anh. Anh tự nhủ: “Mình là người năng nổ và đầy nghị lực. Tại sao mình không dùng nó vào việc tốt thay vì điếu xấu. Ý tưởng đó luôn ám ảnh tâm hồn anh và anh bắt đầu nghĩ về Chúa Giêsu, Con Người mà từ lâu anh đã đẩy xa ra khỏi cuộc đời anh. Giờ đây Con Người đó như  bêu cạnh anh, muốn đi vào tâm hồn anh, đem tình thương đến cho anh. Cảm nghiệm đó biến đổi con người anh hoàn toàn... Và ngày được trả lại tự do, anh bắt đầu nói và viết cổ vũ cải cách nhà tù. 
Cân chuyện Starr Daily trên đây tương đồng với câu chuyên Dakêu trong Tin mừng hôm nay.
+ Cả hai từng sống cuộc đời xấu xa.
+ Cả hai đều được gặp Chúa Giêsu.
+ Cả hai đều biến đổi lạ lùng.
+ Cả hai đều bù đắp lại lỗi lầm quá khứ.
Nhưng khi nào chúa Giêsu đi vào đời sống chúng ta?
Chúa Giêsu đi vào đời sớng chúng ta bằng  nhiều cách, đặc biệt trong những dịp sau đây
- Khi chúng ta nghe đọc và  giải thích Kinh Thánh.
- Khi chúng ta lãnh nhận Thánh thể và bí tích giải tội.
- Khi chúng ta ta gặp gỡ và giúp đỡ anh chị em  nhứt là những anh chị em nghèo đói bất hạnh, vì “ai giúp đỡ một trong những kẻ nghèo khổ là giúp chính Người (Theo “Sunday  homilies”).

LÝ DO CÁC LINH HỒN PHẢI ĐỀN TỘI NƠI LUYỆN NGỤC

1. Trẻ em trong luyện ngục:
2. Để được ơn đại xá:
3. Chết bất ngờ:
4. Không làm việc bác ái:
 5. Chỉ trích Hội thánh:
6. Làm việc bác ái cho người nghèo:
7. Linh mục ít ban phép lành:
8. Coi thường Luật Hội thánh:
9. Đạp Thánh giá:
( tiếp theo)
10. Bác sĩ chích thuốc làm chết êm:
Linh hồn một bác sĩ hiện về than thở về hình phạt nặng nề ông đang phải đền trong Lửa Luyện Ngục. Lý do là khi còn sống, trong lúc hành nghề, ông đã chích thuốc cho các bệnh nhân làm giảm cơn đau, nhưng cùng lúc, khiến họ chóng chết. Giờ đây, ông mới thấy rõ tầm quan trọng và giá trị lớn lao của đau khổ, nhất là những đau khổ được chấp nhận với lòng kiên nhẫn, mang lại một giá trị vô biên. Linh hồn nói:
- "Người ta được phép làm giảm bớt các đau đớn quá lớn, nhưng không được quyền rút ngắn cuộc sống của các bệnh nhân, bằng những phương tiện hóa học, y khoa".
11. Chiếm bất công tài sản của người:
Một ngày, một người đàn ông đến nhà tôi. Ngay từ nơi hành lang, ông cất tiếng hỏi với một giọng khinh khi:
- "Cái bà thường đùa giai với vụ các Linh hồn ở Luyện Ngục hiện về, đang trốn xó nào rồi?".
Tôi trả lời:
- "Xin ông đi về phía này. Tôi đang đứng ở đây. Và không có chuyện đùa giai với các Linh hồn nơi Lửa Luyện Hình đâu!".
Nghe vậy, ông ta lầm bầm trong miệng, rồi đi thẳng vào vấn đề:
- "Bà có phải là người mà ông E. hiện về với bà không?". Thì ra ông ta là người nhà của ông E. mà tôi đã thông truyền lại những gì ông E. nhắn gởi. Ông E. muốn người nhà phải hoàn trả lại tài sản đã chiếm hữu cách bất chính.
Sau khi nghe tôi xác nhận, ông ta nổi giận đùng đùng, quát tháo ầm ĩ:
- "Tài sản nào đã chiếm hữu bất chính mà chúng tôi phải hoàn trả lại?".
Tôi trả lời:
- "Tài sản nào thì tôi không biết. Ông E. chỉ nhờ tôi nói lại với người nhà như thế. Chính người nhà của ông E. phải biết rõ đâu là tài sản đã chiếm hữu bất chính và phải hoàn trả lại cho chủ nhân".
Vừa trả lời, tôi vừa nghĩ là ông ta biết rõ tài sản nào. Thế rồi, theo lời ông ta nói, tôi biết ông là người không sống đạo và chỉ trích mọi người từ Đức Thánh Cha đến các Giám Mục, Linh Mục và Giáo Hội Công Giáo. Tôi từ từ giải thích cho ông hiểu mọi chuyện. Ông dịu hẳn lại và nói:
- "Nếu quả đúng như vậy, tôi phải thay đổi cuộc sống. Tôi không tin tưởng nơi một Linh Mục nào hết, nhưng giờ đây, tôi phải bắt đầu đặt niềm tin nơi Thiên Chúa, bởi vì, bà không thể nào biết được trong gia sản của chúng tôi, có những tài sản mà chúng tôi đã chiếm hữu cách bất hợp pháp. Kể cả các thân nhân họ hàng của chúng tôi, phần đông cũng không biết điều này..".
12. Không cho con đi tu:
Lần kia, Linh hồn hiện về với tôi là một bà mẹ gia đình. Linh hồn nói:
- "Tôi bị giam cầm đền tội nơi Lửa Luyện Ngục trong vòng 30 năm trời. Lý do là vì tôi đã ngăn cản không cho phép con gái tôi gia nhập dòng tu".
Linh hồn nói thêm:
- "Khi các bậc cha mẹ phải dâng con cho Chúa và khi Thiên Chúa gọi con cái vào chức vụ Linh Mục hoặc đời sống tu trì, mà cha mẹ ngăn cản, cha mẹ chịu một trách nhiệm vô cùng nặng nề. Có rất nhiều người trẻ, đáng lý đã trở thành linh mục hoặc tu sĩ, nhưng không được cha mẹ cho phép. Các cha mẹ này phải trả lẽ nặng nề trước mặt Thiên Chúa".
13. Thù hằn không tha:
Một người đàn ông viết cho tôi rằng, vợ ông qua đời đã hơn một năm. Nhưng kể từ đó, đêm nào phòng ông cũng bị đập ầm ầm, không ngủ được. Ông xin tôi đến, xem có thể làm được gì giúp ông không.
Tôi nhận lời nhưng nói trước có lẽ tôi không làm được gì nhiều. Nếu vợ ông chưa được phép hiện về, đành phải phó thác mọi sự trong tay Chúa Quan Phòng. Tôi đến và ngủ trong phòng đó. Vào khoảng 23 giờ 30 phút, tiếng đập cửa bắt đầu nổi lên. Tôi cất tiếng hỏi: “Linh hồn muốn gì? Tôi có thể làm gì giúp cho Linh hồn?”. Tôi không thấy ai cũng không nghe tiếng trả lời. Tôi nghĩ là bà này chưa được phép nói. Sau khoảng 5 phút, một con hà mã xuất hiện. Trông thật khủng khiếp. Tôi liền rảy nước thánh và hỏi:
“Tôi phải làm cách nào để giúp Linh hồn?”. Vẫn không có tiếng trả lời. Tức khắc, xuất hiện một con rắn khổng lồ. Con rắn quấn chặt quanh con hà mã, như để bóp chết. Rồi cả hai con thú biến mất. Tôi buồn rầu tự nhủ: “Không lẽ Linh hồn này bị trầm luân đời đời sao?”. Một lúc sau, một Linh hồn khác xuất hiện. Linh hồn này an ủi tôi:
- “Đừng sợ. Bà ấy không bị rơi xuống hỏa ngục đâu. Nhưng bà bị một thứ hình phạt nơi Luyện Tội dữ dằn nhất. Lý do là khi còn sống, bà đã giữ mối hận thù triền miên với một phụ nữ khác. Phụ nữ này đã nhiều lần tìm cách xin lỗi và làm hòa, nhưng bà ấy nhất định từ chối, ngay cả khi bị bệnh nặng gần chết!”.
Câu chuyện Linh hồn trên đây cho thấy Thiên Chúa trừng phạt nặng nề những tội phạm lỗi đức bác ái, chống lại người thân cận.
(Maria Simma, “Les Âmes du Purgatoire m’ont dit”, Editions Du Parvis, 1990).
NHỮNG CÁCH CỨU
CÁC LINH HỒN LUYỆN NGỤC
 Công đ?ng Lyon n?m 1274 v? C?ng ??ng Florence n?m 1439 tuy?n ng?n r?ng:
??? l?m gi?m b?t c?c h?nh ph?t c?c linh h?n kh?n kh? ph?i ch?u trong Luy?n ng?c:
ồng Lyon năm 1274 và Công đồng Florence năm 1439 tuyên ngôn rằng:
“Để làm giảm bớt các hình phạt các linh hồn khốn khó phải chịu trong Luyện ngục:
1/ Lời cầu nguyện,
2/ Làm phúc bố thí,
3/ Các việc lành khác mà các giáo dân quen làm như Giáo hội dạy,
4/ Nhất là Thánh Lễ Misa, có thể giảm bớt hình khổ cho các linh hồn Luyện ngục.” (D. 464, 693).
1/ Lý do người sống có thể cứu người chết là nhờ mầu nhiệm “Các Thánh thông công” ta tuyên xưng trong kinh Tin kính.
Mầu nhiệm Các Thánh Thông công dạy ta rằng “Tất cả các tín hữu còn sống hay đã qua đời, đã được lên Thiên đàng hay còn trong Luyện ngục, đều liên lạc mật thiết với nhau.”
- Các tín hữu còn sống liên lạc với các Thánh trên trời bằng cách tôn kính cầu xin các Thánh, đối lại các Thánh cầu bầu cho các tín hữu trước mặt Chúa, xin cho các tín hữu những ơn cần thiết làm trọn thánh ý Chúa trong bậc mình khi còn sống ở trần gian.
- Các tín hữu còn sống liên lạc với các linh hồn Luyện ngục bằng cách dâng các lời nguyện, việc lành phúc đức cầu cho các linh hồn, đổi lại các linh hồn cầu bầu cho các tín hữu trước mặt Chúa, xin cho các tín hữu những ơn cần thiết phần hồn phần xác.
- Các tín hữu còn sống thông công liên lạc với nhau qua lời cầu nguyện, gương lành. Đời sống thánh thiện của mọi người đều có ảnh hưởng đến người khác.
Chúa Kitô đã kết hợp các tín hữu thành một thân thể mầu nhiệm, đó là lý do giải nghĩa mầu nhiệm các Thánh thông công như đã trình bày trên.
    Chúng ta nên bác ái, quảng đại dâng việc lành phúc đức như: cầu nguyện tắt, đọc kinh, lần hạt Mân côi, ăn chay, hi sinh hãm mình, bố thí, nhường Ân xá, nhất là dự lễ và xin lễ cho các linh hồn trong Luyện ngục. Làm như thế ta thực hiện mầu nhiệm Các thánh Thông công, liên kết  đó là giáo lý rất an ủi người sống cũng như người đã qua đời.
2/ Theo ý kiến Thánh Tôma Aquinô, muốn cho các việc chúng ta làm sinh ơn ích cứu rỗi các linh hồn, cần 3 điều sau:
        1. Phải làm việc có tính cách đền tội, bởi tuy là việc lành nhưng sinh công hiệu khác nhau: công hiệu kinh Mân côi khác công hiệu lễ Misa. Và còn tùy người làm cách sốt sắng thánh thiện hay khô khan ơ hờ.
        2. Phải có ý nhường công phúc việc lành mình làm cho linh hồn nào đó, hoặc cho các linh hồn mồ côi. Nếu không có ý nhường thì công phúc việc lành vẫn thuộc về người làm.
        3. Phải làm khi có ơn nghĩa Chúa, nghĩa là sạch tội trọng. Không kể những việc lành nguyên tự phát sinh công hiệu như Thánh lễ Misa, dù người dự hay xin lễ không có ơn nghĩa Chúa, Thánh lễ vẫn sinh công hiệu cho các linh hồn.

Truyện kể rằng, một người cha đang khi hấp hối dặn đứa con trai nhớ đến và năng cầu nguyện cho cha sau khi cha qua đời. Người con hiếu thảo vâng lời ngay, chàng siêng năng cầu nguyện, dâng việc lành phúc đức cầu cho linh hồn cha.
Sau 33 năm người cha nói trên hiện về với con, quanh mình phủ đầy lửa, cay đắng phàn nàn:
- Tại sao con quên cha lâu năm như vậy, không cầu nguyện cứu giúp cha.
Người con hết sức ngạc nhiên không hiểu câu nói của cha, chàng liền hỏi:
- Những lời cầu nguyện, việc lành, bố thí của con không giúp ích gì cho cha sao?
Người cha trả lời:
- Không con ơi, các việc lành phúc đức con làm không sinh ích gì cho con và cho cha, bởi con làm khi con mắc tội trọng. Con xưng tội, nhưng không có lòng ăn năn chừa tội thật. Chúa nhân từ cho phép cha hiện về với con để làm ích cho cha con ta.
Từ đó, người con thật lòng ăn năn chừa tội và chẳng bao lâu sau đã cứu được linh hồn cha khỏi Luyện ngục lên Thiên đàng rực rỡ vô ngần (Charity p. 526).

QUAN NIỆM VÀ SUY TƯ MỚI

Trước hết, nền tảng gia đình ngày nay đang phải đối diện với những thách đố đến từ những quan niệm và suy tư đổi mới của con người thời đại.
Hai luồng tư tưởng ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đối với tương quan vợ chồng, đó là quan niệm bình quyền và cá nhân chủ nghĩa.
1-Bình quyền:
Bình quyền là một từ ngữ mà chúng ta thường xuyên nghe thấy trong mọi sinh hoạt, đặc biệt là những sinh hoạt có tính cách xã hội. Tại các nước văn minh tiên tiến, bình quyền còn được đề cao như một hình thức đạo đức xã hội. Đi đâu và ở đâu cũng “ưu tiên cho phụ nữ” - “lady first”.
Bình quyền theo quan niệm nhiều người, cách riêng là nữ giới, có nghĩa là “như nhau” hoặc “giống nhau”. Đàn ông cũng như đàn bà. Trai cũng như gái. Cái gì anh làm được, tôi cũng làm được. Ở một nghĩa tuyệt đối, tôi phải như anh, và anh cũng như tôi. Và với quan niệm, lý luận này, sự khác biệt nam nữ, vai trò chuyên biệt trong đời sống cũng như sinh hoạt xã hội, trở thành đảo lộn, mất trật tự.
Bình quyền, do đó, không đồng nghĩa với giống nhau. Anh là anh, tôi là tôi. Đàn ông là đàn ông, và đàn bà là đàn bà. Mỗi người, mỗi phái tính đều có những giá trị và chức năng riêng. Sự khác biệt này không những cần thiết mà còn hữu ích cho cuộc sống cá nhân, gia đình, cũng như xã hội. Vì thế, bình quyền phải được hiểu như sự tương xứng, và ngang hàng. Những bông hoa khác nhau với những hương thơm và màu sắc khác nhau được trồng chung trong một khu vườn. Chúng lớn lên tự nhiên bên nhau trong khu vườn, và đem lại vẻ đẹp đa dạng với những giá trị riêng của chúng.
Trong đời sống hôn nhân, giá trị đồng đều và tương xứng ấy, là vai trò và phạm vi của người chồng cũng như của người vợ.
Bình quyền trong hôn nhân là một lối diễn tả thái độ sống tôn trọng, yêu thương và tương kính nhau trên căn bản và giá trị của một con người; một cách đặc biệt, người đó là người mình thương, mình yêu, và thương mình, yêu mình.
Từ quan niệm bình quyền ấy, đưa đến việc san sẻ, và cộng tác với nhau. Vợ chồng khích lệ và giúp nhau làm tròn bổn phận và chức năng mỗi người. Lấy hạnh phúc của người mình yêu là hạnh phúc chính mình. Cảm thông được nỗi đau và nỗi khổ của người mình yêu như của chính mình.
2-Cá nhân chủ nghĩa:
Nếu lấy tôi làm bản vị và đơn vị duy nhất, thì cá nhân chủ nghĩa đồng nghĩa với độc tôn. Trong tương quan xã hội, tôi lo tìm và thỏa mãn cái tôi của tôi, và tôi là nhất, ngoài ra không còn ai khác.
Vì đề cao cái tôi, nên chính khi đi tìm thỏa mãn cái tôi của mình, tôi đã vô tình hay hữu ý làm mờ nhạt hoặc lấn lướt cái tôi của người khác. Điều này làm nảy sinh sự bất công trong xã hội, châm ngòi cho những đấu tranh, tệ đoan xã hội. Quan niệm và sống như tôi là nhất, còn dẫn đến lối sống ích kỷ và tìm mình.
Trong hôn nhân, quan niệm và lối sống này sẽ thúc đẩy người chồng cũng như người vợ lo tìm kiếm và thỏa mãn riêng mình, tạo nên cảnh: “Chồng ăn chả, vợ ăn nem.” Nó cũng sẽ dựng lên một bức tường phòng thủ kiên cố được tự ái bao bọc, khiến dù là chồng hay vợ, cũng không thể xâm nhập được. Một cuộc sống mà hễ cái tôi bị va chạm, liền nảy sinh vấn đề, cãi vã, khó chịu, hoặc kình chống nhau. Nó hoàn toàn phá vỡ hình ảnh của hôn nhân là sự kết hợp yêu thương giữa hai vợ chồng.
NIỀM TIN LUNG LAY
Nhân loại ngày nay, hơn bao giờ hết, đang gặp nhiều thách đố về niềm tin. Nhân danh những tiến bộ của khoa học và nhân danh tự do, con người như đang đuổi Thượng Đế ra khỏi cuộc đời mình, và cuộc sống xã hội. Kết quả của sự sa sút niềm tin này làm cho con người mất định hướng, mất ý nghĩa, và mất đi giá trị cuộc đời, khiến cuộc sống ngày càng trở nên vô vọng, mất đi ý nghĩa của nó.
Vì để lạc mất niềm tin, hay không còn tin vào những giá trị thiêng liêng, phần đông các tín hữu Công Giáo ngày nay đã coi Bí Tích Hôn Phối như một ràng buộc có tính cách pháp lý. Việc cử hành Bí Tích Hôn Phối chỉ là một nghi thức mang màu sắc tôn giáo. Quan niệm này dẫn đến kết quả cho rằng hôn nhân là một việc làm có thể thay thế được khi con người cảm thấy cần có sự thay đổi. Nó được trả lời bằng phong trào ly dị như hiện nay, và đã phá vỡ hơn 50% các cuộc hôn nhân.
Tuy nhiên, hôn nhân Công Giáo lại không phải là một khế ước, hay một nghi thức được cử hành ở thánh đường. Nó là một giao ước bất khả phân ly giữa người chồng và người vợ: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly” (Mc 10:9). Giao ước này được cử hành long trọng bởi hai người trước sự chứng kiến của đại diện Giáo Hội, thân bằng quyến thuộc, và bạn hữu.
MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI
Con người, ai cũng mang trong mình ít nhiều xã hội tính. Sự thay đổi về kinh tế ngày nay đã đẩy con người ra ngoài sinh hoạt của gia đình, thử thách lòng tin tưởng và thủy chung của nhiều người. Đặc biệt nhất của môi trường xã hội là sở làm, nơi mà ít nhất mỗi ngày chúng ta cũng phải để ra 8 tiếng, hoặc nhiều hơn, có thể lên đến 10, 12, hoặc 16 tiếng.
Từ môi trường sở làm mà nhiều người đã tìm được chồng hoặc vợ tương lai của họ. Ngược lại, cũng từ sở làm mà nhiều người đã mất chồng hoặc mất vợ. Vì cũng chính ở đây phát sinh những tình cảm đe dọa sự chung thủy của vợ chồng:
1-Tình cảm bất chính:
Không ai từ chối tình cảm tốt đem đến sự cộng tác và giúp đỡ trong công việc thường ngày. Tại sở làm, có những công việc làm riêng, và cũng có nhiều công việc đòi hỏi sự hợp tác của nhiều người.
Thời gian dài gặp gỡ, cộng tác và trao đổi tại sở làm hay hãng xưởng, đã làm nẩy sinh tình cảm đối với nhau: tình cảm ngay lành và tình cảm bất chính. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Đó là nhận xét của cha ông chúng ta trong những giao tiếp thường xuyên giữa nam và nữ.
Tại những nơi ấy, tình cảm phát xuất trước hết do quan hệ người trên và người dưới. Người chỉ huy và người thừa hành. Tiếp đến, là giữa những anh chị em cùng một ngành nghề. Đặc biệt, giữa những người điều hành và người thừa hành là nam và nữ. Bạn bè cùng ngành nghề là nam và nữ.
Cũng tại nơi này, những chuyến công tác xa nhà do các hãng xưởng gửi đi, trong đó phải kể đến những chuyến công tác có cả nam và nữ hoặc chỉ riêng một nam và một nữ.
Môi trường sở làm, trong rất nhiều trường hợp, đã trở thành thử thách lớn cho sự chung thủy, nhất là khi người vợ bước vào thời kỳ hồi xuân trung bình từ 40 đến 50 tuổi. Cái tuổi rất khó khăn cho nữ giới cũng như nam giới trong lãnh vực tâm lý và tình cảm.
2-So sánh hơn thua:
Do hàng ngày tiếp xúc với người này, người khác trong sở làm, qua những mối giao tiếp xã hội, nẩy sinh những so sánh hơn thua giữa chồng mình với chồng người khác, giữa vợ mình với vợ người khác.
Sự so sánh ấy đặt trên những căn bản như ngành nghề, bằng cấp, kiến thức, và lương bổng. Thông thường, người chồng mà có học lực thấp hơn vợ, có ngành nghề dưới tay vợ, và có mức lương thua kém vợ, là những lý do dễ đưa đến những mặc cảm tự ty hoặc tự tôn. Một người bạn đã có lần tâm sự với người viết: “Anh không thể nào tưởng tượng được nỗi đau của tôi khi vợ tôi nói với tôi trong thời gian tôi đang vật lộn đi tìm việc làm: “Học cho lắm rồi cũng ở nhà ăn lương vợ. Ngày mai vào sở làm, tôi cho một chức thứ ký cho tôi!”
Sự đau đớn này, có thể gây ra tâm bệnh nếu nó bị dằn vặt và được tái tục mỗi ngày. Nhẹ nhất trong những trường hợp như vậy, người chồng sẽ cảm thấy lép vế, sẽ mất tự tin. Hậu quả sẽ dẫn đến những lời nói và hành động tiêu cực như những lời nói bất nhã, thiếu kính trọng, bẳn gắt, tức bực; đặc biệt nhất là hành động ghen tương vô cớ. Đó là những dấu hiện khởi đầu dẫn đến triệu chứng thiếu tự tin. Khả năng điều hành gia đình vì vậy, bị ảnh hưởng và dẫn đến những bất ổn trong gia đình.
Ngược lại, người vợ có thể mang những mặc cảm tự tôn và cho mình không cần thiết phải vâng lời, hoặc kính trọng một người chồng thua kém mình về nhiều mặt. Tình yêu của phụ nữ thường đến từ sự ngưỡng phục: “Gái tham tài, trai tham sắc”. Và khi sự nể phục không còn nữa, lúc đó ngọn lửa tình yêu cũng bắt đầu lịm tắt.
Chồng cũng như vợ không biết mình cần gì và muốn gì giữa những tình huống như vậy? Không biết hành xử như thế nào để quân bình tình cảm, tình yêu, và trách nhiệm. (còn tiếp)
Trần Mỹ Duyệt