YOUTH CORNER
GIỜ LỄ / MASS SCHEDULE
Thánh Lễ Giáo Xứ
- Ngày thường: 6:30 a.m; 6:30 p.m

Thánh Lễ Chúa Nhật
- Thứ Bẩy 6:00 p.m
- Chúa Nhật 7a.m; 8:30a.m; 10:30a.m
- Lifeteen Mass 6:00 p.m

Xưng Tội
Ngày thường 30 phút trước lễ
Thứ Bẩy 5:00 p.m – 5:45 p.m

SINH HOẠT GIÁO XỨ

Lịch trình sinh hoạt

Thứ Bẩy ngày 6-8-2016 Nguyệt Hội Huynh Đoàn Đaminh và Mừng Lễ Thánh Đaminh, khấn dòng

Chúa Nhật 7 tháng 8 khai giảng lớp Tìm Hiểu Đức Tin Công Giáo (lớp tân tòng và Thêm sức người lớn)
+ Nhà trường ghi danh học giáo lý và việt ngữ

Thứ Bẩy 20-8 Đại Hội Giáo Lý

Thứ Bẩy 10-9 Khai giảng các lớp Việt Ngữ và Giáo Lý
30/9-2/10 Khóa Dự Bị Hôn Nhân

CHÀO MỪNG QÚY VỊ

THÔNG BÁO

Hội CBMCG sẽ tham dự buổi tĩnh tâm hàng năm do Liên Hội Các Bà Mẹ Công Giáo VN thuộc Giáo Phận Galveston Houston tổ chức vào


Chúa Nhật ngày 28 tháng̣ 8,2016 từ 8:00 giờ sáng đến - 4:00 giờ chiều
- tại Nhà Thờ Lavang.Địa chỉ: 12320 Old Foltin Rd. Houston TX,77086. ĐT:281-999-1672 
Hội CBMCG sẽ tổ chức Thánh Lễ chúc thọ cho Quý Cụ hội viên 75 tuổi trở lên vào
            Chúa Nhật ngày 4 tháng 9 lúc 8 giờ 30 sáng .
HCBMCG-GXCTTĐVN thông báo và kính mời!

Danh ngôn của Mẹ Teresa
Nếu bạn phán xét người khác, bạn chẳng còn thời gian để yêu thương họ nữa.
If you judge people, you have no time to love them.
Quan trọng không phải chúng ta cho đi bao nhiêu, mà là chúng ta dành bao nhiêu sự yêu thương để cho đi.
It’s not how much we give but how much love we put into giving.
Chúng ta hãy luôn gặp nhau với nụ cười, bởi nụ cười là điểm bắt đầu của yêu thương.
Let us always meet each other with smile, for the smile is the beginning of love.
Hãy trao tặng tình yêu thương bất cứ nơi đâu bạn tới: trước tiên trong chính mái ấm của mình. Hãy yêu thương con cái, bạn đời, và cả những người hàng xóm... Đừng để ai tới với bạn mà không rời đi tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn. Hãy là hiện thân sống động cho lòng nhân ái của Chúa trời bằng cách thể hiện lòng nhân ái trên gương mặt, trong ánh mắt, trong nụ cười và cả trong những lời chào nồng ấm.

Ngày 21-8-2016 * Chúa Nhật 21 Mùa Thường Niên * Đi qua cửa hẹp mà vào

Đi qua cửa hẹp mà vào
Để được vào Nước Trời đừng ỷ lại vào gốc gác. Chính thánh Gioan Tẩy giả đã nói thẳng vào mặt những người biệt phái và bè Sađucêu: “Đừng ỷ mình là con cháu tổ phụ Abraham…”(Mt 3,7t). Đối với Đức Giêsu, những đặc quyền về chủng tộc này không đáng kể. Lời cảnh cáo nghiêm khắc của Đức Kitô trước tiên áp dụng cho những người đã từng ăn uống  trước mặt Ngài, và những người đã từng nghe Ngài giảng dạy. Có những người nghĩ rằng họ đã ở trong đạo Chúa thế là đã đủ rồi. Họ có ý phân biệt họ với đám dân ngọai. Nhưng con người sống trong Giáo hội của Chúa chưa chắc chắn đã là Kitô hữu, những người đó đang hưởng thụ các lợi ích, các tiện nghi  mà những người đi trước đã xây dựng nên. Nhưng đó không phải là lý do  để ngồi chơi, thỏa lòng và yên trí rằng mọi sự đều tốt đẹp cả. Ngược lại, chúng ta phải tự vấn: “Ta đã góp phần được gì vào di sản của người trước”. Chúng ta không thể sống bằng cái tất vay mượn của tiền nhân.
a) Cửa hẹp là gì?
Hình ảnh về cửa hẹp được Đức Giêsu sử dụng rất quen thuộc với dân chúng vào thời đại của Ngài. Dân chúng thời đó sống ở bên trong thành phố được bao bọc bằng vách tường. Vì không có đèn đường, các cửa và các cổng dẫn vào thành phố phải được đóng chặt chẽ vào ban đêm để tránh trộm cướp, hay kẻ thù cưỡi ngựa xâm nhập, tấn công thành phố. Nếu dân chúng đi ra khỏi thành phố và trở về trễ  sau khi các cổng đã đóng chặt rồi thì sao?  Có ai mở cổng cho họ vào? Không! Khi cổng đã đóng rồi không ai được mở ra vì sợ bọn cướp hay quân địch ẩn núp trong bóng tối sẽ có thể tấn công bất ngờ.
Những người trở về trễ phải khép mình chui qua một cái cửa hẹp. Những cái cửa hẹp này còn được gọi là “mắt của cái kim” –“the eye of the needle”. Cửa chỉ vừa vặn cho một người đi qua thôi, và không thể mang theo hành lý.
Trong Luca chương 18, câu 25: “Quả vậy, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa”. “Lỗ kim” ở đây chính là “cửa hẹp”. Người đi buôn với hàng hóa cồng kềnh chất đầy trên lưng lạc đà không thể đi qua cửa này được. Phải vứt bỏ tất cả hàng hóa và hành lý xuống. Con lạc đà phải cúi đầu, khòm lưng  và quì gối xuống may ra mới lọt.
(Nguyễn văn Thái, Sống lời Chúa, năm C, tr 290-291).
b) Phải vào đúng lúc là gì?
“Một khi chủ nhà đã đứng dậy và khóa cửa lại”(Lc 13,25). Cánh cửa đã hẹp nay lại đóng kín. Thời gian hết sức cấp bách, phải bước vào ngay, ngày mai sẽ quá trễ. Ngay hôm nay phải bước vào Nước Trời.
Đây là giờ của ơn thánh. Ơn Chúa không bao giờ thiếu, nhưng phải biết đáp ứng. Vì thế,  mỗi giây phút hiện tại, mỗi biến cố xẩy đến trong cuộc đời ta đều mang một ý nghĩa vì nó sẽ đem ta vào Nước Trời  hay chặn ta lại trước cánh cửa Nước Trời đang đóng lại. Tuy nhiên về ơn Chúa ta không thể biết đâu là đầu, là chót, là quyết định hay không. Nhưng chính sự mập mờ bấp bênh này càng làm cho ta phải dứt khóat lựa chọn và theo Chúa trong mỗi giây phút hiện tại.
c) Qua cửa hẹp là phải chiến đấu.
Đức Giêsu không trả lời trực tiếp về số lượng người được rỗi và chỉ nói đến cách thức để được cứu rỗi. Ngài nói: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào”(Lc 13,24). Ngài không muốn trấn an, Ngài muốn người ta sống có trách nhiệm. Từ đây, Ngài dùng hình ảnh quen thuộc trong toàn bộ Thánh Kinh: Nước Chúa như một phòng tiệc. Nhưng Ngài thêm: người ta xô đẩy nhau trước cửa vì cửa phòng “hẹp”.
Từ Hy lạp mà chúng ta dịch là “chiến đấu” là một động từ mạnh bạo “agonizesté” nghĩa đen là “đánh nhau để được vào”. Từ “agonie” (hấp hối) trong tiếng Pháp có ngữ căn lấy từ động tự Hy lạp: Cuộc chiến đấu cuối cùng của sự sống. Để đem lại ơn cứu độ cho mọi người, Đức Giêsu là người đầu tiên đã chiến đấu, ở vườn Giếtsimani và đồi Golgotha. Trong một đọan văn khác, Ngài đã nói rằng “Chỉ những ai mạnh sức mới chiếm được Nước Trời”(Mt 11,12; Lc 16,16).
(Quesson).
Con đường chiến đấu khác nào một cuộc leo núi mà đỉnh chót không bao giờ đạt được ở trần gian này. Người ta nói về hai người leo núi nổi tiếng đã chết trên ngọn Everest rằng: “Khi người ta thấy họ lần cuối cùng thì họ vẫn hăng hái tiếân lên đỉnh núi”. Người ta ghi khắc vào bia mộ  một hướng dẫn viên leo núi Alpes chết ở sườn núi rằng: “Chàng chết lúc đang lên”. Con đường Kitô hữu phải đi là con đường đi lên,tiến lên, tiến mãi.
Tổng thống Washington có khuyên một câu thật chí lý: “Không nên chỉ đánh giá thành công qua địa vị mà con người đạt được trong cuộc sống, nên đánh giá sự thành công  qua những trở ngại mà người đó khắc phục được”.
Cuộc đời có biết bao lôi cuốn cam go, nhưng chỉ khi can đảm, không thỏa hiện hay nhân nhượng với kẻ thù, người ta mới có thể nói được như thánh Phaolô: “Tôi đã chiến đấu trong cuộc sống chính nghĩa; đã chạy đến cùng đường; kiên vững trong lòng tin. Giờ đây, triều thiên công chính được dành sẵn cho tôi, và Thiên Chúa, Đấng phán xét chí công, sẽ hoàn lại cho tôi trong ngày ấy, không chỉ cho tôi mà thôi, nhưng còn cho hết mọi người đã đầy lòng mến yêu trông đợi Ngài xuất hiện”(2Tm 4,6-8).
Nhiều khi huấn luyện để  ta trở nên người chiến binh dũng mạnh hầu chiến đấu đến cùng đường, Thiên Chúa cũng phải “quở trách… sửa dạy… và đánh đòn”(Dt 12,5-6). Aâu cũng vì thương con mà “cho roi cho vọt” và “có gian nan mới tạo anh hùng”.
Truyện: Muốn vào hàng trai tráng.
Trong nhiều bộ lạc Da đỏ Mỹ châu  họ hay có nghi thức huấn luyện và thu nhận thiếu niên vào hàng ngũ trai tráng trong làng, người ta tổ chức như sau: Khi mặt trời sắp lặn, người bố sẽ dắt đứa con của mình vào sâu trong một cánh rừng. Đứa bé được trao cho một cây lao với lời nhắn nhủ: “Con sẽ ở một mình trong rừng đêm nay”. Sau đó người bố rút lui.
Màn đêm buông xuống rất nhanh. Không gian chập chờn với bao tiếng gầm rú rùng rợn. Người ta dễ có cảm tưởng đang bị thú dữ rình chờ tấn công. Thỉnh thoảng, vài tiếng vỗ cánh của chim ăn đêm cũng có thể làm cho người yếu vía giật mình. Thời gian chậm chạp trôi qua. Mỗi giây phút là cả một khoảng dài vô định.
Nhưng cuối cùng, màn đêm cũng rút lui. Bầu trời từ từ hừng sáng. Nỗi sợ hãi trong đứa bé cũng phai mờ theo. Từ trong một lùm cây, một bóng người xuất hiện: cha của đứa bé. Đứa bé nhận ra và vui mừng chạy đến ôm chầm lấy bố, reo lên: “Bố đã trở lại”. Người cha hãnh diện khi thấy con mình trải qua đêm đen như một người trưởng thành. Đứa bé không hề biết rằng suốt đêm qua cha nó không ngừng trông chừng nó.
Để trở thành chiến binh anh dũng trên mặt trận đức tin, lắm khi chúng ta cũng phải chấp nhận biết bao thách đố trong bóng đêm cuộc đời. Những đe dọa của sự dữ, gầm rú của đau khổ, rình chờ của xác thịt như những phương thế giúp tinh luyện lòng ta thêm can trường dũng mãnh. Và trong suốt chiều dài của bóng đêm đó, dù ta có ý thức hay không, Thiên Chúa vẫn luôn ở bên cạnh dõi mắt trông nhìn chúng ta.
d) Qua cửa hẹp còn là sám hối, hoán cải.
Đối với những người Do thái họ tưởng rằng mình đương nhiên có thể vào Nước Thiên Chúa, nhưng Đức Giêsu nói: “Các ông hãy sinh trái cây thống hối,  nếu không, địa vị ưu đãi của các ông sẽ chẳng có ích gì”.
Đức Giêsu cho biết hoán cải là một phương thế cần thiết để được vào Vương quốc. Và Ngài tiếp tục đem sự hoán cải đến với phần lớn những người  không có gì hứa hẹn. Nhiều người tội lỗi đã chú ý đến lời kêu gọi hoán cải của Ngài và họ đã lên đường tiến tới Vương quốc. Trong khi nhiều người có đạo đã ngoan cố chống lại lời kêu gọi hoán cải của Ngài và do đó, tự loại mình ra khỏi Vương quốc.
Khi nghe Đức Giêsu nói: “Ở đó các ngươi sẽ khóc lóc nghiến răng, khi thấy ông Abraham, Isaac và Giacóp cùng tất cả các tiên tri ở trong Nước Thiên Chúa, còn mình thì lại bị đuổi ra ngoài. Thiên hạ sẽ từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa”(Lc 13,28-29), cách nói này có thể cho chúng ta cảm tưởng rằng những người có thiện chí, thật sự tìm cách vào Nước Trời sẽ bị lọai trừ một cách độc đóan bởi sự độc tài của một ông chủ không có lòng thương xót. Hẳn đó là bức biếm họa về Thiên Chúa! Thiên Chúa không tàn nhẫn và bất công. Thật vậy, ai không vào được bữa tiệc chỉ có thể trách cứ chính mình. Thiên Chúa đã làm tất cả để cánh cửa nổi tiếng là “hẹp” ấy trở thành một cánh cửa rộng mở cho mọi người không phân biệt.
Chúng ta phải khẳng định hai điều:
* Về phía Thiên Chúa, tất cả đã sẵn sàng để cứu chuộc mọi người không trừ ai.
* Về phía con người, chỉ cần có sự nghiêm túc của tự do, tự do này có thể từ chối ơn Thiên Chúa ban cho và tự do này là một cuộc chiến đấu.

Chương trình Lễ Phong Thánh cho Mẹ Têrêsa Calcutta

ROMA. Các Nữ tu thừa sai bác ái ở Roma đã công bố chương trình mừng lễ và tôn kính thánh tích Mẹ Têrêxa Calcutta sẽ được ĐTC tôn phong hiển thánh vào chúa nhật 4-9 tới đây.
 Lễ Phong Thánh sẽ được ĐTC cử hành lúc 10 giờ rưỡi tại Quảng trường Thánh Phêrô và cũng là lễ kết thúc cuộc hành hương Năm Thánh Lòng Thương Xót dành cho những người hoạt động trong các tổ chức bác ái Công Giáo, những công việc lòng thương xót.
 - Thứ năm, 1-9-2016, sẽ có lễ hội dành cho người người và gia đình thừa sai bác ái, trong đó cũng có phần âm nhạc dựa trên đời sống của Mẹ Têrêsa Calcutta.
 - Thứ sáu, 2-9, sẽ có các thánh lễ bằng nhiều ngôn ngữ tại Vương cung thánh đường thánh Anastasia ở khu Palatino, và tôn kính thánh tích. Ban chiều có buổi canh thức và chầu Mình Thánh Chúa trọng thể tại Đền thờ thánh Gioan Laterano do ĐHY Giám quản Roma, Agostino Vallini, chủ sự.
 - Sáng thứ bẩy, 3-9, có buổi tiếp kiến với bài huấn giáo của ĐTC Phanxicô nhân dịp Ngày Năm Thánh của những người hoạt động trong lãnh vực bác ái và từ thiện. Ban chiều cùng ngày có buổi suy niệm và canh thức tại Đền thờ thánh André della Valle, sau đó là nghi thức tôn kính thánh tích Mẹ Têrêsa và thánh lễ.
 - Sáng chúa nhật 4-9, ĐTC sẽ chủ sự lễ phong thánh cho Mẹ Têrêsa và ban chiều các tín hữu có thể tôn kính thánh tích vị tân Hiển thánh tại Đền thờ Thánh Gioan Laterano.
 - Ngày thứ hai, 5-9, ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa thánh, sẽ chủ sự thánh lễ tạ ơn tại Đền thờ Thánh Phêrô và cũng là lễ kính lần đầu tiên Thánh Têrêsa Calcutta. Các tín hữu có thể tôn kính thánh tích của thánh nữ vào ban chiều cũng tại Đền thờ thánh Gioan Laterano. Việc tôn kính này sẽ được tiếp tục ngày hôm sau cũng tại Đền thờ này.
 Sau cùng, trong hai ngày từ mùng 7 đến 8-8-2016, thánh tích thánh nữ Têrêsa sẽ được tôn kính tại Nhà thờ thánh Gregorio Cả, và có thể viếng phòng của thánh nữ tại tu viện cạnh thánh đường này (CNS 5-8-2016)
TRUYỆN MẸ TÊRÊSA KỂ:
1. KHÔNG SẮM ĐỒ CƯỚI, KHÔNG MỞ TIỆC, ĐỂ TIỀN CHO NGƯỜI NGHÈO
Một câu chuyện làm Mẹ Têrêsa cảm kích thường hay được Mẹ kể:
Năm 1982, một hôm có 2 người trẻ tới nhà chúng tôi tại Calcutta. Họ đã nghe rằng, hàng ngày chúng tôi nấu ăn cho 7 ngàn người, nên họ tới và tặng cho chúng tôi một món tiền lớn để chúng tôi giúp người nghèo.
Ở Calcutta, mọi người đều biết là mỗi ngày tất cả các cơ sở dòng Nữ Tử Bác Ái của chúng tôi phải cung cấp thực thẩm cho khoảng 9 ngàn người. Bởi lẽ đó, không lạ gì hai bạn trẻ này muốn dùng số tiền họ tặng vào mục đích trên”.
Sau khi giải thích, mẹ Têrêsa kể tiếp:
“Thấy họ còn quá trẻ, tôi tò mò hỏi:
- Hai con có thể cho mẹ biết tiền đâu mà hai con có nhiều thế?
Họ trả lời:
- Chúng con vừa cưới nhau được hai ngày. Trước ngày cưới, chúng con đã suy nghĩ nhiều. Sau cùng, chúng con quyết định không may đồ cưới, cũng không tổ chức yến tiệc linh đình, và chúng con muốn dùng khoản tiền chi phí cho đám cưới để tặng những người không được may mắn như chúng con”.
Tôi phân vân, vì đám cưới tại Ấn là một chuyện lớn. Quyết định làm như 2 bạn trẻ này thực là điều ngoại lệ, nên tôi hỏi thêm:
- Tại sao anh chị lại quyết định như vậy?
- Vì chúng con yêu nhau, chúng con muốn có cái gì đặc biệt cho nhau, cái gì đẹp đẽ, và chúng con quyết định hi sinh.
Mẹ Têrêsa cắt nghĩa:
“Ở Ấn Ðộ, đối với một người Hin-đu thuộc giai cấp thượng lưu khá giả, đám cưới mà không có quần áo cưới và tiệc cưới là một điều nhục nhã. Vì thế, chắc chắn mọi người, nhất là những thân nhân họ hàng của đôi vợ chồng trẻ đó đã rất lấy làm lạ và cho quyết định của họ là một việc làm gây tủi hổ cho cả hai gia đình, đàng trai cũng như đàng gái”.
Ðể biết rõ thêm, mẹ Têrêsa hỏi:
- Tại sao chúng con lại quyết định táo bạo như thế, chúng con không sợ rằng việc làm như thế sẽ làm phật lòng cha mẹ và họ hàng sao?
Hai bạn trẻ ấy trả lời:
- Chúng con yêu nhau tha thiết. Vì thế chúng con muốn tặng cho nhau một món quà cưới thật đặc biệt. Chúng con muốn khởi đầu cuộc chung sống của chúng con bằng một hy sinh mà cả hai đều dự phần vào.
Thật là tuyệt vời khi nghĩ đến tình yêu cao quí như thế. Tôi luôn luôn cầu nguyện: Lạy Chúa, xin ban cho những người trẻ ơn Thánh và sức mạnh, để trong ngày thành hôn, họ có thể cho nhau trái tim trong sạch, trái tim trinh khiết, thân xác trong trắng là món quà lớn lao của tình yêu nhau.
2. CẦU NGUYỆN CHO BÉ SẮP CHẾT
Một hôm, Mẹ được biết một em bé trong nhà trẻ tại Calcuta, một sơ buồn bã nói với Mẹ:
-Đứa bé sắp chết.
-Mẹ trả lời: Ta hãy cùng đọc kinh Lạy Cha. Họ đã đọc và Mẹ đem em bé đi khám nghiệm lại. Ba giờ sau, em bé tỉnh lại dần. Sự việc này nhiều lần đã xảy ra. Mẹ không làm phép lạ, nhưng đã cầu nguyện, và Chúa Giêsu nhận lời.
3. VỊ THÁNH XÓM NGHÈO
Mẹ Têrêsa đi làm việc trong các xóm nghèo nàn dơ dáy, gọi là xóm ổ chuột, từ năm 1948. Vì thế, Mẹ và các chị em Dòng của Mẹ trở nên quen biết với những khuôn mặt thảm não nhất trên thế giới này. Trong những năm đầu, Mẹ không có xe riêng, Mẹ phải dùng những phương tiện chuyên chở công cộng. Sau này, vì sức khoẻ và tuổi già yếu, Mẹ đã cho phép mình được có xe. Mẹ thường đi bộ đến nơi làm việc trong các xóm ổ chuột nghèo nàn nhất thế giới. Mẹ thường nhủ mình và bảo các chị em dòng: “Mở mắt ra mà nhìn”. Câu chuyện sống động này Mẹ thường hay nhắc lại khi có dịp:
“Tôi không bao giờ quên, một hôm tôi xuống phố, và chợt thấy vật gì động đậy ở trong rãnh. Tôi gạt bùn đi, và thấy đó là một người. ông ta bị sâu bọ rúc rỉa, và sau khi đem về nhà , chúng tôi phải mất 3 tiếng đồng hồ để lau lọt cho ông. Người sống dơ bẩn trong rãnh này, sau cùng đã nói:
- Tôi đã sống như con vật trên đường phố, nhưng tôi sẽ chết như một thiên thần, được yêu mến và được săn sóc. Và ngay khi chúng tôi còn cầu nguyện với ông, cầu nguyện cho ông, ông nhìn vào một Sơ mà nói:
- Sơ ơi, tôi sắp đi về nhà Chúa, rồi ông chết. Trên mặt ông nở nụ cười rạng rỡ. Tôi chưa hề thấy nụ cười nào giống như thế.
4. LÀM VIỆC NÀY CHO CHÚA GIÊSU
Có những phụ nữ làm việc cho các cơ quan xã hội, lại thường muốn giúp đỡ Mẹ Têrêsa. Một bà nói:
- Thưa Mẹ, chúng tôi cũng làm việc xã hội như Mẹ, nhưng chúng tôi muốn giúp Mẹ. Mẹ Têrêsa muốn họ giúp, nhưng cũng muốn họ hiểu bản chất công việc phục vụ của Mẹ. Mẹ nói:
- Một tâm hồn trong sạch sẽ thấy Thiên Chúa. Chúng ta phải thấy Thiên Chúa trong mỗi người. Điều này chính Chúa Giêsu đã dạy:”Hãy thương mến nhau, là thương mến Ta, điều nhỏ mọn đó, con đã làm cho Ta”.
Chúng tôi không phải là những nhân viên xã hội, chúng tôi đã làm những công việc xã hội dưới mắt của một số người, nhưng chúng tôi làm việc đó cho Chúa Giêsu.
Rồi Mẹ giải thích thêm:
- Một hôm, một trong các Sơ chúng tôi thấy một người nằm ngoài đường, Sơ đã đỡ ông ta lên, da ông còn rụng trên lối đi. Sơ đem ông về nhà chúng tôi và mất nhiều giờ săn sóc ông, mình ông đầy những dòi rúc rỉa. Sau 2,3 giờ ông chết miệng nở nụ cười tuyệt vời trên khuôn mặt tươi tỉnh. Tôi hỏi Sơ:
- Sơ thấy thế nào khi đụng vào người ông ta? Khi Sơ đụng vào da thịt của ông?
- Thưa Mẹ, chưa bao giờ con cảm thấy sự hiện diện của Chúa Kitô như thế. Thật vậy, chắc chắn con đã đụng vào thân thể Chúa.
5. TÌNH YÊU BẮT ĐẦU TỪ GIA ĐÌNH
Mẹ Têrêsa ngạc nhiên thấy càng ngày càng tăng số những thiếu niên nam nữ con nhà giầu cũng như nhà nghèo nghiện xì ke...Mẹ gắng tìm hiểu nguyên nhân nào đã đưa đến nông nỗi này. Mẹ đã tìm được câu trả lời: Khi chúng trở về nhà, thì không ai trong gia đình ở đó để đón tiếp chúng. Con cái chúng ta cậy nhờ vào chúng ta trong mọi chuyện.- sức khỏe, của ăn, sự an toàn, sự nhận biết và yêu mến Chúa. Với tất cả những điều đó, con cái tìm đến cha Mẹ với sự tin tưởng, hi vọng, mong mỏi.
Sự ràng buộc yếu kém trong gia đình là nguyên nhân gây ra vấn đề. Mẹ nói:
- Yêu thương kẻ nghèo, nhưng trước hết phải yêu thương những người trong gia đình quí vị. Mẹ cha sẻ kinh nghiệm tại London, nước Anh, mang cho gia đình một sứ điệp.
Mẹ kể:
- Một đêm tôi đi xuống phố với các nữ tu. Tôi thấy một em trai tóc dài đang ngồi cạnh đường với những em khác. Tôi hỏi em:
- Sao em lại ở đây? Em không nên ở đây, em nên về nhà với cha Mẹ.
Em đó trả lời:
- Thưa Mẹ, nhiều lần con gắng trở về nhà, nhưng má con không nhận con. Mỗi lần con về, má con đuổi con đi, vì má con không thích con để tóc dài.
Tôi cho em một tô súp và miếng bánh kẹp thịt, rồi chúng tôi đi. Khi chúng tôi trở lại, chúng tôi thấy em nằm xõng xoài trên đất. Em hút quá lượng xì ke. Chúng tôi đưa em vào nhà thương. Tôi không thể nghĩ rằng dù má em bận rộn chuyện này chuyện kia, nhưng đó là con của bà ta, không chấp nhận, không yêu thương, và chỉ muốn đuổi em đi ra ngoài nhà.
Tôi không giúp gì được, nhưng tôi tự nghĩ: Đây là đứa trẻ muốn về nhà, nhưng má nó không có giờ lo cho nó.. Đây là sự nghèo thật nghèo. Đây là vấn đề tôi và các bạn phải làm cho thế giới tốt đẹp hơn.
6. GẶP CHÚA KITÔ TRONG THÂN THỂ ANH EM KHỐN KHỔ
“Khi Ta mình trần, con đã...Lần kia Mẹ Têrêsa kể:
Một thiếu nữ đã tìm đến Ấn Độ xin gia nhập hội thừa sai bác ái của chúng tôi. Chúng tôi có một qui định là người đầu tiên khi mới đến, tất cả những ai muốn sống với chúng tôi đều được mời sang nhà hấp hối, tức là nhà đón tiếp những người sắp chết. Bởi vậy, tôi đã nói với thiếu nữ:
- Con đã nhìn thấy vị Linh mục dâng Thánh lễ, con đã thấy Ngài cầm Thánh Thể trong tay cách cung kính và mến yêu chừng nào, con cũng hãy đi và làm như thế nơi nhà hấp hối, bởi vì con tìm gặp được Chúa Giêsu trong thân thể của người anh em khốn khổ đó.
Người thiếu nữ ra đi. Một thời gian sau cô trở lại với một nụ cười thật tươi mà có lẽ tôi chưa bao giờ trông thấy. Cô vui vẻ nói với tôi:
- Thưa Mẹ, con đã sờ đến thân thể Chúa Kitô suốt ba tiếng đồng hồ.
Tôi hỏi cho biết sự thể đã diễn ra thế nào Cô đáp:
- Con vừa đến nhà hấp hối thì thấy người ta mang tới một cụ già vừa té xuống một hố sâu. Mình mẩy ông đầy những thương tích và bùn dơ hôi hám. Con đã tắm rửa cho ông thật sạch sẽ và băng bó các vết thương của ông, con biết rằng làm như thế là con đã chạm đến thân thể Chúa Kitô.
7. VUI VẺ TƯƠI CƯỜI TRONG HÔN NHÂN
Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.
Tôi liền bảo họ: “Quý vị hãy về và cười với nhau. Hãy cười với vợ của ông. Hãy cười với con cái của ông bà. Hãy cười với mọi người, không kể người đó là ai. Cười như thế quí vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương”.
Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:
- Bà có lập gia đình không?
Tôi gật đầu và nói:
- Đôi khi tôi cũng cảm thấy khó cười với vị hôn phu của tôi.
Và Mẹ Têrêsa kết luận:
- Đúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài.
8. SỐNG ĐỨC ÁI
Một ngày nọ, Mẹ Têrêsa nhận được 15 đôla do một người bị bất toại đã 20 năm gửi tặng. Ông ta bị toàn thân bất toại chỉ còn bàn tay phải là có thể cử động được. Ông sống trong cô đơn và chỉ có một người bạn duy nhất là điếu thuốc lá.
Hôm ấy, Mẹ Têrêsa đến thăm, an ủi ông và ông đã nói với Mẹ:
- Thưa Mẹ, con đã ngừng hút thuốc từ một tuần nay, và đây là số tiền con dành dụm được. Con xin biếu Mẹ để Mẹ mua cơm bánh cho những kẻ nghèo khó.
Đó là cử chỉ bác ái anh hùng của một tâm hồn cao thượng ! Thật vậy, trên đời này, không ai nghèo đến nỗi không có gì để chia sẻ với người khác và cũng không ai giàu đến độ không thể nhận thêm được cái gì của người khác ! Với số tiền nhỏ bé 15 đôla kia, Mẹ Têrêsa đã mua cơm bánh cho người nghèo đói, và cả hai -người bất toại trong việc cho đi và người nghèo đói trong việc nhận lãnh- đều cảm nhận được một niềm vui sâu xa. Có lẽ nhiều lần chúng ta đã dễ dàng quên đi một sự thật căn bản này là: mỗi một dịp chia sẻ với người khác tức là một lần đón nhận món quà Chúa gửi đến.
Ngày 10/12/1979. Mẹ Têrêsa đã được trao tặng giải thưởng hòa bình. Nhân dịp đó, Mẹ phát biểu:” Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ Chúa, vì cơ hội tốt đẹp này. Giải thưởng Hòa Bình này nhắc nhở mọi người chúng ta hãy sống trong an bình !”
Nhưng niềm an bình thực sự phát xuất từ đâu nếu không phải là từ một trái tim biết yêu thương? Yêu đến nỗi chấp nhận mọi đau khổ. Yêu như Đức Giêsu yêu thương nhân loại trên thập giá. Yêu cho đến khi tự hiến trọn thân mình và không từ chối bất cứ một hy sinh nào !
9. KHÔNG AI NÊN THÁNH MỘT MÌNH
Mẹ Têrêsa được giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1979 và là sáng lập viên của Dòng Thừa Sai Bác Ái chuyên phục vụ người nghèo và hấp hối, đã kể lại ân huệ phục vụ của Mẹ trong một bức thư viết từ Calcutta, như sau:
Trong những ngày đầu, khi mới khởi sự làm việc cho những người cùng khổ nhất trong vùng ngoại ô, tôi đã bị sốt liệt giường. Trong cơn mê sảng, tôi bỗng thấy mình đến trình diện trước mặt Thánh Phêrô, người giữ cửa Thiên đàng. Nhưng Thánh Phêrô chặn tôi lại ở cửa, không cho vào. Thánh nhân bảo tôi:
- Không thể để cho một người thuộc khu ô chuột được vào, Thiên đàng không có nơi cùng khổ !
Lúc bấy giờ, tôi giận nói với ngài:
- Thưa ngài, thật thế ư ? Vậy thì con sẽ tìm mọi cách để làm cho thiên đàng đầy dẫy những dân cư từ các khu ổ chuột, và đến lúc đó, ngài sẽ bị bắt buộc để cho con vào thiên đàng.
Tội nghiệp Thánh Phêrô ! Kể từ sau giấc mơ ấy, Mẹ Têrêsa và các nữ tu của Mẹ đã không để cho ngài được yên chút nào. Đã có không biết bao nhiêu người cùng khổ và cô đơn qua đời trong vòng tay ôm ấp của Mẹ và các nữ tu Bác Ái. Thiên đàng đã trở thành nơi cư trú của những người cùng khổ.
Giai thoại trên đây của Mẹ Têrêsa như muốn nói lên một chân lý: Không ai nên Thánh một mình ! Không ai lên thiên đàng một mình !
10. RÁ GẠO CHIA ĐÔI
Hồi đó, nhằm lúc thiếu đường trong thành phố Calcutta, có một cậu bé chừng 4 tuổi đem đến cho tôi một chén đường bảo tôi:
- Thưa Mẹ, con đã nhịn ăn đường suốt một tuần nay. Xin Mẹ hãy dùng ít đường này cho các trẻ mồ côi của Mẹ.
Một cử chỉ anh hùng biết bao đối với một em bé mới có 4 tuổi ! Em đã học biết yêu kẻ khác đến độ hy sinh những gì mình cần thiết.
Một dịp khác, một em nhỏ muốn đem rá gạo tôi đem đến ra vo để nấu cơm cho cả nhà ăn. Nhưng rồi có một người đàn ông đến gặp tôi và nói:
- Thưa Mẹ, gần đây có một gia đình người Hindu có 8 đứa con, mà cả tuần nay họ chẳng có gì ăn cả.
Lập tức, tôi bưng rá gạo đi theo người đàn ông ấy và tìm đến nhà người Hindu kia. Bước vào túp lều lụp xụp, tôi bắt gặp những khuôn mặt xanh xao và cơn đói lúc đó đang hành hạ họ. Không cầm lòng được, tôi trao hết rá gạo cho bà ta. Bà này cảm động đón lấy rá gạo, rồi lập tức ngồi xuống chia làm hai phần. Sau đó, bà bưng một nửa ra đi . . . một lúc sau, bà trở lại. Tôi ngạc nhiên hỏi bà:
- Bà đi đâu vậy ? Đem gạo cho ai ?
Không chút do dự bà nói:
- Họ cũng đói lắm !
- Nhưng họ là ai ?
- Họ là những gia đình Hồi giáo. Họ cũng có những đứa con đói khổ như con. Họ ở bên kia đường, và cả tuần nay, họ cũng chẳng có gì ăn cả.
Rồi tôi trở về nhà. Tôi không muốn đem thêm gạo cho họ ngày hôm đó, để họ có dịp hưởng niềm vui của sự chia sẻ !
11. NỤ CƯỜI BIẾT ƠN
Một buổi tối nọ, Mẹ Têrêsa mang theo về nhà mấy bệnh nhân Mẹ gặp bên lề đường, trong đó có một bà già bị bệnh nặng lắm. Mẹ Têrêsa tình nguyện săn sóc bà ấy với tất cả tình thương sẵn có trong tâm hồn. Khi đặt bà lên giường, bà ấy siết chặt tay Mẹ và mỉm cười thật tươi, một nụ cười thật đẹp mà Mẹ chưa từng gặp thấy trên khuôn mật nào khác, một nụ cười thật tế nhị. Bà ấy nhìn Mẹ Têrêsa với tất cả vẻ trìu mến và chỉ kịp thốt lên tiếng “Cám ơn!” Rồi bà lão nhắm mắt tắt thở.
Mẹ Têrêsa nhìn bà ấy và tự hỏi: Nếu tôi ở trong trường hợp bà ấy, tôi sẽ nói gì? Dĩ nhiên tôi sẽ tìm sự chú ý của người khác, hoặc tôi sẽ nói “Tôi lạnh, tôi đói, tôi khát nước . . .”
Nhưng người đàn bà ấy thì không làm như thế ! Bà ấy đã cho Mẹ Têrêsa một món quà lớn hơn cả sự chăm sóc của Mẹ đã dành cho bà. Bà ấy đã biết tặng Mẹ lòng yêu mến biết ơn qua nụ cười tươi đẹp đó.
12. DÙ MỘT TRIỆU ĐÔLA CŨNG KHÔNG
Khi quan sát một chị nữ tu săn sóc vết thương cho một người bệnh, người nhà giàu kia lên tiếng:
- Có cho tôi một triệu đôla để làm việc đó, tôi cũng chịu thua.
Đáp lại, Mẹ Têrêsa nói:
- Có cho chúng tôi mười triệu đôla để không làm việc đó, chúng tôi cũng không làm, tôi chỉ làm vì tình mến Chúa.
13. BÁC ÁI QUA HÀNH ĐỘNG
Chúng ta biết rằng cách cho thì quý hơn là của cho. Mẹ Têrêsa cũng thường bảo rằng để có thể đem Chúa Giêsu đến với người khác, điều quan trọng chính là cách chúng ta thực hiện và điều chúng ta làm cho những anh chị em nghèo hèn. Mẹ đã kể lại một câu chuyện cảm động như sau:
Hôm ấy có một người lạ mặt đến thăm các bệnh nhân. Ông ta đến nhà vào lúc một Sơ vừa mới đem một người hấp hối từ ngoài đường về. Sơ này tìm thấy kẻ hấp hối đang nằm bất tỉnh bên ống cống, mình phủ đầy giòi bọ, trông thật ghê tởm. Thế nhưng, không chút ái ngại, Sơ ấy vẫn chăm sóc bệnh nhân cách kỹ lưỡng. Sơ nhặt từng con giòi, rửa sạch sẽ mọi chỗ, vừa làm vừa mỉm cười với tất cả lòng thương mến. Sơ làm việc cách thản nhiên, không bận tâm để ý đến ai cả. Trong khi đó, người khách lạ đứng ở một góc phòng quan sát từng cử chỉ của Sơ ấy. Sau cùng, người khách lạ kia đến gặp tôi và trút hết tâm sự:
- Thưa Mẹ, sáng nay con đến nhà này với tâm hồn của một kẻ vô thần. Lòng con đầy căm hờn và oán giận. Nhưng bây giờ. . . con ra về với một tâm hồn hoàn toàn đổi mới. Con bắt đầu tin vào Chúa, bởi vì con đã chứng kiến tình yêu của Chúa được diễn tả một cách cụ thể qua hành động và qua cách Sơ ấy đã đối xử với người hấp hối bẩn thỉu kia. Bây giờ con tin thật Chúa là tình yêu. Không có tình yêu Chúa trong tâm hồn, không thể nào có đủ nghị lực để yêu mến tha nhân được.
Mẹ Têrêsa chưa từng được biết người khách lạ kia là ai và cũng không biết rằng ông ta là kẻ vô thần.
Mẹ Têrêsa thường chia sẻ tư tưởng đó khi nhắc nhở các nữ tu Bác ái trong Tu hội của Mẹ rằng:” Chúng ta phải tỏ lòng biết ơn đối với Chúa, vì Người đã ban cho chúng ta những anh chị em nghèo khổ. Chính vì họ mà chúng ta có cơ hội tụ họp lại chung vai sát cánh làm việc với nhau”. Đối với Mẹ Têrêsa, người nghèo không phải là một gánh nặng, cũng không phải là những con người đáng xa lánh. Trái lại, họ chính là các vị ân nhân tinh thần của chúng ta, bởi vì qua họ, chúng ta có dịp để thực hiện Tình yêu Chúa. Người nghèo cũng có tinh thần cao thượng và lòng hảo tâm. Qua việc tiếp xúc với người nghèo, chúng ta có thể học được nhiều bài học tinh thần phong phú.
Tại Úc châu, Mẹ Têrêsa có mở một nhà nội trú dành cho các thanh thiếu niên nghèo. Một lần kia, Mẹ gặp thấy một thanh niên đang bị đánh đập tàn nhẫn, mình mẩy anh ta bầm tím hết. Mẹ thấy cần phải gọi cảnh sát đến điều tra và khi cảnh sát đến hỏi anh:” Ai đã đánh anh ?” thì anh thanh niên này nhất định không trả lời các câu hỏi. Cuối cùng, cảnh sát phải chịu thua anh ta và bỏ ra về. Lúc đó, Mẹ Têrêsa mới ôn tồn hỏi anh:
- Sao con không khai người đã đánh đập con với cảnh sát ?
- Thưa Mẹ, nếu con khai ra, người đó sẽ bị trừng phạt và rồi những đau khổ của người đó cũng không thể làm giảm đi nỗi khổ đau của chính con !
Người nghèo giầu tình thương biết bao ! Chúng ta bảo họ nghèo, nhưng thực sự, chính họ lại giầu có. Họ giầu tình thương và giầu lòng nhân ái. Chúng ta cần phải có một tình thương và đôi mắt nhân hậu để có thể khám phá ra những hạt giống tốt đã được gieo rắc trong tâm hồn họ và giúp cho những hạt giống ấy phát triển thêm nhờ vào cách đối xử nhân từ của chúng ta đối với họ.
14. KHI VỀ HƯU MẸ SẼ ĐI LAU PHÒNG VỆ SINH
Mẹ Têrêsa Calcutta, một người nổi tiếng vì những công việc bác ái mà chính Mẹ và các chị em trong dòng do Mẹ sáng lập đang giúp đỡ những dân túng quẫn ở khu ổ chuột tại Calcutta. Mẹ đã được giải Nobel Hòa Bình, nhưng điều làm cho nhiều người cảm động nhất chính là câu trả lời của Mẹ với báo chí khi được hỏi: “Mẹ đang điều khiển một nhà dòng có ảnh hưởng khắp thế giới, vậy có bao giờ Mẹ nghĩ Mẹ sẽ về hưu không? Khi về hưu Mẹ sẽ làm gì?” Mẹ đã thẳng thắn trả lời: “Tôi sẵn sàng về hưu lắm chứ. Việc của Chúa đã có Chúa lo. Còn tôi sẽ làm gì ấy à? Tôi có thể ở với các chị em của tôi tại Washington này để dọn dẹp nhà vệ sinh cho các chị, để các chị có thời giờ đi giúp đỡ những người nghèo ở thủ đô của một nước giàu nhất thế giới...”
15. NHỮNG BỘ ÁO XARI
Cho đi là mình chia sẻ cả những cái mình quí trọng chứ không phải để làm nhẹ bớt đi những cái dư thừa ! Đó là một trong những điều mà Mẹ Têrêsa không ngừng nhắc đi nhắc lại với các cộng tác viên của Mẹ.
Một lần, có một người đàn bà giầu có người Hindou đến thăm Mẹ. Bà ta nói với Mẹ:
- Thưa Mẹ, con ước ao được chia sẻ với Mẹ và cộng tác với Mẹ trong các hoạt dộng từ thiện.
- Tốt lắm ! -Mẹ đáp lại một cách vui vẻ-.
Rồi bà ta thú thực với Mẹ là bà ta có một điều rất khó bỏ, đó là tính khoe khoang, ưa làm dáng. Bà thích mặc những chiếc áo xari, những bộ đồ Ấn Độ lộng lẫy và đắt tiền. Hôm ấy, bà mặc bộ áo xari trị giá 65 đôla, trong khi chiếc áo xari của Mẹ Têrêsa đang mặc chỉ đáng giá 65 xu, chưa đầy một đôla. Như được ơn trên soi sáng, Mẹ Têrêsa bỗng nảy ra một tư tưởng hay. Mẹ đề nghị với bà ấy bắt đầu cộng tác với Mẹ về những bộ áo xari đó. Mẹ khiêm tốn đề nghị:
- Từ nay trở đi, thay vì mua sắm những bộ aó xari trị giá 65 hoặc 100 đôla, thì bà chỉ nên mua những bộ rẻ tiền hơn, chừng 45 hoặc 50 đôla thôi. Số tiền còn lại, bà hãy mua những bộ áo xari đơn sơ khác dành cho người nghèo.
Bà ấy vui vẻ hưởng ứng lời đề nghị của Mẹ, rồi dần dần bà đã biết dùng những bộ áo xari rẻ tiền hơn. Sau này, chính bà ấy đã thú nhận với Mẹ Têrêsa rằng:
- Thưa Mẹ, từ ngày con bắt đầu từ bỏ những vẻ hào nhoáng vô ích bên ngoài đó, tâm hồn con cảm thấy được tự do hơn, nhẹ nhàng hơn. Con đã học biết và hiểu rõ hơn thế nào là cho đi, thế nào là chia sẻ. Và trong cách chia sẻ như thế, con phải thú nhận rằng chính con đã được lãnh nhận nhiều hơn những gì con đã cho đi và chia sẻ với những anh chị em nghèo khó !
16. HỌ MONG NGƯỜI THÂN ĐẾN THĂM
Mẹ Têrêsa kể: Một hôm tôi được dẫn đi thăm nhà thương tư dành cho người già ở Anh quốc. Các phòng ở đây rất sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi, máy móc tối tân vào loại nhất. Các y tá được huấn luyện chu đáo và rất lịch sự với các người già, nhưng có điều làm tôi ngạc nhiên không ít, và tôi hỏi bác sĩ giám đốc:
- Thưa bác sĩ, tại sao tất cả những người già này đều quay nhìn ra cổng, mỗi khi có người bước vào nhà thương vậy?
Nghe câu hỏi này, vẻ lúng túng hiện rõ trên khuôn mặt bác sĩ giám đốc. Ông đáp:
- Thưa, tại vì bao giờ họ cũng mong đợi một người thân, một người bà con đến thăm viếng họ, nhưng mà hầu như chẳng có ai đến”.
17. PHỤC VỤ ĐỂ LÀM CHỨNG NHÂN
Sau khi Mẹ Têrêsa được giải thưởng Hoà Bình, một ký giả người Mỹ đến Ấn độ để phỏng vấn Mẹ. Người ký giả đã tìm gặp được Mẹ Têrêsa ở đường phố Calcutta, đang phục vụ những người nghèo đói tật bệnh. Người ký giả ngỡ ngàng vì con số kẻ khó và người bệnh tật quá đông, ông ta hỏi Mẹ Têrêsa:
- Làm thế nào Mẹ có thể thành công trong vấn đề giúp đỡ người nghèo khó đông như thế này?” Sau một ít phút, Mẹ Têrêsa nhìn người ký giả trả lời:
- Chúng tôi không phục vụ để trông đòi thành công, chúng tôi phục vụ để làm chứng cho công việc của Chúa.”
18.SỰ THÁNH THIỆN LÀ GÌ?
“Tôi tin rằng chúng ta phải tìm cầu sự Thánh thiện, niềm vui, và tình yêu ngay trong gia đình chúng ta. Chúng ta phải làm cho ngôi nhà của mình trở nên nhà Nagiaret thứ hai, nơi đó Chúa Giêsu có thể đến và sống với chúng ta”. Mẹ nói thêm về sự Thánh thiện. Theo Mẹ Têrêsa định nghĩa Thánh một cách rất đơn giản, rất dễ nhớ như sau:
“Thánh không phải là chuyện xa hoa, nghĩa là chỉ dành cho một ít người. Thánh là một bổn phận đơn giản của mỗi người chúng ta THÁNH LÀ NHẬN BẤT CỨ CÁI GÌ CHÚA GIÊSU BAN CHO TA, VÀ CHO CHÚA GIÊSU BẤT CỨ CÁI GÌ NGƯỜI ĐÒI NƠI TA, VỚI MỘT NỤ CƯỜI THẬT TƯƠI”. Và Mẹ thêm: Đó là Ý Chúa muốn”.
Mẹ nói tiếp:
“Trong cuộc sống của các bạn, của tôi, của mỗi người chúng ta, Chúa đã dựng nên chúng ta cho những sự cao cả hơn. Người đã dựng nên ta để YÊU và để ĐƯỢC YÊU, ĐỂ CHÚNG TA CÙNG BƯỚC VỀ NHÀ THIÊN ĐÀNG...
“ Những người nghèo của chúng tôi là những người vĩ đại. Họ cho chúng tôi nhiều hơn là chúng tôi cho họ. Họ có thể dậy chúng tôi những điều tốt đẹp. Họ không cần chúng tôi thông cảm hay thương hại họ. Họ cần chúng tôi yêu thương và đồng cảm. Chúng tôi không phải yêu họ vì chúng tôi dư dật. Chúng tôi phải yêu họ tới khi chúng tôi bị tổn thương “.
19. ĐEM TÌNH YÊU ĐẾN
Mẹ Têrêsa Calcutta nói: “Những người Hồi giáo ở nước Yemen gọi các sơ dòng chúng tôi là “Những người mang Tình Yêu Chúa”. Tôi và các bạn cũng phải là những người “Mang Tình Yêu Chúa”.
Mỗi khi chúng ta Rước Mình Thánh Chúa, chúng ta được đầy Chúa Giêsu, và như Đức Mẹ, chúng ta phải vội vã đi tìm những trẻ em bị bỏ rơi ngoài đường và đem chúng về nhà. Chúng ta đem chúng trở lại nơi có tình thương, vui vẻ, và bình an, nơi Chúa ở với chúng ta.
Cầu xin Chúa để chúng ta đừng làm hư công việc của Chúa đã trao cho chúng ta, để chúng ta có thể tiến đến bên nhau, vì Chúa trao phó việc này cho chúng ta. Tất cả chúng ta phải làm việc gì tốt đẹp cho Chúa”.
20. CHÚA YÊU CHÚNG TÔI
“Chúng ta có hàng ngàn người cùi. Họ rất vĩ đại, rất đẹp đẽ trong nội tâm, dù bên ngoài hình hài họ tật nguyền. Lễ Giáng sinh năm trước, tôi sống với họ. Hàng ngàn người cùi của chúng ta, chúng tôi luôn tổ chức buổi tiếp tân Giáng sinh cho họ. Trong buổi tiếp tân, tôi nói với họ “anh chị em là quà tặng Thiên Chúa ban. Chúa yêu anh chị em cách đặc biệt. Người đón nhận anh chị em. Tôi nói với họ: Phong cùi không phải là một tội.
Một người đàn ông già, ông bị cùi làm lở loét toàn thân, ông lại gần nói với tôi” Mẹ nói lại đi, đó là điều tốt cho tôi, tôi thường nghe rằng không ai thích chúng tôi. Thật là tuyệt vời được biết rằng : Chúa yêu chúng tôi. Mẹ nói lại đi”.
Tại Melbourne, bên Úc, chúng tôi có “nhà chia sẻ”. Trong nhà đó có những người không thân nhân, những người từ ngoài đường phố, những người có thể bị tù tội, những người lấy vỉa hè làm nhà. Một trong những người ấy bị người khác đả thương, người ấy cũng đang ở trong “nhà chia sẻ”, vì vết thương rất nặng, một người hỏi ông ta: Ai đã đánh ông? Nhưng người bị thương không nói tên người đánh ra. Khi người hỏi đi rồi, tôi hỏi ông ta: Sao ông không nói tên ai đánh ông? Người này trả lời: “Sự khổ của ông ta cũng không làm giảm sự khổ của tôi”. Đó chính là điều Chúa Giêsu muốn nói: “ Hãy yêu thương nhau như Thầy đã thương yêu các con.”
21. THẤY CHÚA KITÔ TRONG NGƯỜI NGHÈO
“Chúa Giêsu đã trở nên một người đói, như vậy tôi và bạn có thể làm thỏa mãn cơn đói của Người, che đậy sự trần trụi của Người, và cho Người chỗ ở. Người nói: “Con đã làm điều đó cho Ta. Ta đã đói, Ta đã ở trần, Ta đã không có nhà”.
Một người bị bỏ rơi ở trên đường phố, chúng tôi đã mang về một người từ trên đường phố Calcutta, đó là Chúa Giêsu dưới hình dáng người này. Đó là Chúa Giêsu bị đói. Tôi không thể nào quên được một người bị sâu bọ ăn hết một nửa, khi chúng tôi tìm thấy ông ta. Chúng tôi đưa ông về nhà dọn mình chết. Giữa đường đi, ông thều thào nói: “ Tôi đã sống như một con vật, nhưng bây giờ tôi sẽ chết như một người được yêu thương săn sóc”. Người ấy được chết và về nhà Chúa như thế đó. Đó là Chúa Giêsu cải trang dưới hình dạng người nghèo.
“Một tập sinh đến với chúng tôi từ một nơi xa xôi, từ một gia đình khá giả. Chúng tôi sai chị đến phục vụ trong nhà hấp hối. Trước khi sai đi, tôi dặn chị: “Trong Thánh lễ chị đã thấy linh mục cầm cách cung kính và nhẹ nhàng Mình Chúa Kitô biến đổi từ tấm bánh trở nên như thế nào, chị hãy làm như vậy trong nhà hấp hối”.
Ba giờ sau, chị nhà tập trở về, chị đến với tôi , vui vẻ nói: “Thưa Mẹ, con đã chạm đến mình Chúa Kitô trong ba giờ”. Tôi hỏi lại: “Làm cách nào chị có thể chạm đến mình Chúa?”. Chị nói, chị đã cứu được một người bị sâu bọ gặm hết một nửa thân. Con đã thực sự cảm thấy con đụng đến mình Chúa Kitô, vì Người nói: Khi Ta đau yếu...
Chị nhà tập trẻ tuổi này là một người biết suy niệm. Chị đã được đụng chạm tới Chúa Kitô trong ba giờ, chị đã dâng tình yêu chị cho Chúa. Muốn làm như chị, cần phải nhận biết những người nghèo.
Người nghèo là người vĩ đại. Người nghèo đáng được yêu. Bạn có biết đến những người nghèo đang ở giữa bạn không? Thật là buồn, nếu bạn không nhận ra sự nghèo khó trong nhà bạn.
“Tình yêu phải bắt đầu từ trong nhà bạn, sự nghèo khó cũng bắt đầu từ trong nhà bạn. Bạn phải biết ai là người cô đơn, ai không được yêu mến, ai đang bị bỏ quên ngay trong gia đình bạn”.
22. THƯƠNG YÊU CON CÁI, ĐỪNG PHÁ THAI
Mẹ nói: “Một sự nghèo nàn không thể tin được đang hiện diện trong xã hội ngày nay, đó là những trẻ em không được sinh ra, đã bị phá thai, vì cha Mẹ chúng không muốn chúng chào đời. Con trẻ chết trong lòng bà Mẹ, vì họ không muốn sinh chúng ra. Một quốc gia cho phép phá thai là một quốc gia rất nghèo. Người Mẹ có thể giết con mình, chỉ vì họ sợ có thêm một đứa con, thì quả thực họ cũng nghèo nàn. Bà ta sợ nuôi thêm một đứa con, dạy dỗ thêm một đứa con. Bà muốn có thêm một dàn TV, một chiếc xe mới hơn là có thêm một đứa con. Con trẻ bị kết án tử hình là vì lý do đó. Tuy nhiên, chúng ta đọc trong Kinh Thánh rằng:” Dù cho người Mẹ có thể quên con mình, thì Ta cũng không bỏ quên con đâu. Ta giữ con trong lòng bàn tay Ta”.
Nếu người Mẹ có thể giết con mình, thì đến bao lâu nữa, chúng ta sẽ còn chém giết lẫn nhau? Chúng ta sẽ không còn ngạc nhiên khi nghe nói về giết người, về cái chết, về chiến tranh, về thù hận trong thế giới hôm nay. Đừng bao giờ cho phép dù chỉ một đứa trẻ, đã sinh hay chưa sinh, vào số bất đắc dĩ. Hãy cùng đi với Mẹ Maria để tìm những con trẻ bị bỏ rơi và đem chúng về tổ ấm gia đình”.
23. CƯỜI VỚI BẤT CỨ AI
Có lần mẹ Têrêsa thành Calcutta kể lại như sau:
Nhiều người đến thăm tôi tại Calcutta và trước khi ra về thường ngỏ ý với tôi: “Xin cho chúng tôi một lời khuyên để chúng tôi sống tốt đẹp hơn”.
Tôi liền bảo họ: “Quí vị hãy về và hãy ban tặng cho nhau những nụ cười. Một nụ cười cho vợ của ông. Một nụ cười cho chồng của bà. Một nụ cười cho con cái của ông bà. Hãy cười tươi với tất cả mọi người, bất luận người đó là ai. Với những nụ cười tươi như thế quí vị sẽ lớn lên trong tình yêu hỗ tương.
Nghe vậy một người trong nhóm hỏi tôi:
- Bà có lập gia đình không?
Tôi gật đầu và nói:
- Ðôi khi tôi cũng cảm thấy khó nở một nụ cười với vị hôn phu của tôi.
Và mẹ Têrêsa kết luận:
- Ðúng thế, Chúa Giêsu có thể đòi hỏi rất nhiều. Và chính khi Ngài đòi hỏi như thế thì không gì đẹp cho bằng nở một nụ cười thật tươi với Ngài.
24. THẤP ĐÈN CHO AI
Mẹ Têrêsa thành Calcutta kể:
Ở Úc Châu có một người thổ dân (Aborigine) sống trong một hoàn cảnh thật thảm thương. Ông ta đã cao niên rồi. Từ bao năm tháng ông chỉ một thân một mình cô đơn trong túp lều tối tăm xiêu vẹo. Lần đầu tới thăm ông, tôi đề nghị:
- Ðể tôi dọn dẹp nhà và sửa soạn giường chiếu lại cho ông.
Ông ta hờ hững nói:
- Tôi đã quen sống như vậy rồi.
Nhưng tôi bảo ông:
- Tuy vậy, ông sẽ cảm thấy dễ chịu hơn với căn nhà sạch sẽ và ngăn nắp.
Sau cùng ông ta bằng lòng để tôi dọn dẹp lại nhà cửa cho ông. Trong khi quét dọn tôi thấy một cái đèn cũ, đẹp nhưng phủ đầy bụi bẩn.
Tôi hỏi ông:
- Có bao giờ ông thắp đèn này không?
Ông ta trả lời với giọng chán ngán:
- Nhưng thắp đèn cho ai? Có ai bước chân vào nhà này bao giờ đâu. Tôi sống ở đây đã lâu rồi mà chẳng hề trông thấy một ai cả.
Tôi hỏi ông:
- Nếu như các nữ tu đến thăm ông thường xuyên, ông có bằng lòng thắp đèn lên không?
Ông vui vẻ đáp:
- Dĩ nhiên rồi.
Từ hôm đó, các nữ tu của chúng tôi quyết định mỗi chiều sẽ ghé qua nhà ông. Cũng từ đó, ông ta bắt đầu thắp đèn và dọn dẹp căn lều cho sạch sẽ hơn.
Ông còn sống thêm hai năm nữa, Trước khi chết ông nhờ các nữ tu nhắn tin cho tôi, ông nói:
- Xin nhắn với mẹ Têrêsa bạn tôi rằng, ngọn đèn mà mẹ đã thắp lên trong đời tôi vẫn còn chiếu sáng. Ðó chỉ là một việc nhỏ, nhưng trong bóng tối cô đơn của đời tôi, một tia sáng đã chiếu lên và vẫn còn tiếp tục sáng mãi.
25. BỮA TRƯA MỪNG LỄ BẠC NHÀ HẤP HỐI
Lễ bạc, 25 năm, mừng nhà hấp hối tại nhà Mẹ ở Ấn độ,được tổ chức vào ngày 22 tháng 8 năm 1977.
Đây là dịp rất đặc biệt cho Mẹ. Hôm đó, các bà nhà giầu mặc đồ đẹp, đi xe limousine có tài xế riêng lái đến. Mẹ Têrêsa đã yêu cầu mỗi bà dọn thực phẩm cho một người theo thực đơn ghi sẵn. Họ vào nhà mang theo khay và thúng đồ ăn và trái cây. Một bà đến tay không, nhưng đưa cho Mẹ tiền.Mẹ nói: Tôi không có túi, xin bà đưa tiền cho các Sơ. Lát sau Mẹ nói: Tôi muốn bà ấy tự tay đưa tiền.
Mẹ Têrêsa để ý tới chi tiết. Mẹ đỡ bệnh nhân lên, nếu họ không tự ngồi lên được. Khi Mẹ biết có bệnh nhân không nuốt được, Mẹ bổ cam và vắt nước vào miệng ông ta.
Không ai bị bỏ quên trong việc phân phát lương thực. Khi người ta tính phát hột dẻ, Mẹ nói:
-Để lại sau, sợ các bệnh nhân không tiêu hoá được, nếu họ ăn nhiều quá. Bao tử họ không quen ăn nhiều đồ ăn như thế.
26. HY SINH BÙ LẠI
Mẹ Têrêsa kể:
Một người phụ nữ đến với tôi, vừa khóc vừa kể lể:
- Tôi có đứa con đã 3 tuổi rồi mà nó không biết nói.
- Bà có cái gì bà rất thích bà có thể bỏ đi được không?
- Có, tôi có cái tôi rất thích: nhai trầu, tôi nhai trầu cả ngày.
- Rồi, bây giờ bà bỏ nhai trầu đi, dâng hi sinh này cho Chúa, bà xin một ơn lớn, bà cũng phải hi sinh một điều lớn để đánh đổi.
Mẹ Têrêsa nói: hi sinh của bà kia đã có kết quả lạ. Bà ta trở lại cám ơn Mẹ Têrêsa,bà nói:
- Bây giờ con tôi nói được rồi.
27. HÃY QUAN TÂM TỚI NGƯỜI KHÁC
Một đám đông các bà đang ngồi chờ Mẹ trong nhà một bà khá giả.Vào 9g30 sáng, hơi sớm đối với các bà, nhưng là dịp tốt cho Mẹ. Mẹ Têrêsa đến nói chuyện với họ, và để tiếp Mẹ, Mẹ chỉ xin một ly nước.
Mẹ và một Sơ đến, chắp tay chào các bà. Các bà mong được nghe Mẹ nói. Mẹ bắt đầu:
- Tất cả chúng ta muốn yêu mến Chúa. Nhưng yêu thế nào, yêu ở đâu. Chính Chúa đã dạy chúng ta: “Điều gì các con làm cho kẻ rốt hèn là làm cho chính Ta”.
Vào cuối đời, ta sẽ bị phán xét về nền tảng của tình yêu đối với nhau, về những việc ta đã làm cho người đói, người trần, người không nhà.
Đói ở đây là gì? Có phải là đói ở Phi châu, ở Ấn độ, nơi nhiều người đói một miếng bánh, một chén cơm không? Đúng, nhưng cũng là đói tình yêu thương, đói được người khác quan tâm. Hãy quan tâm tới người khác. Điều kinh hãi là bị bỏ rơi.
Một hôm, khi tôi đi bộ trên đường phố tại London, tôi thấy một người ngồi một mình, trông rất cô đơn. Tôi bước tới và giơ tay bắt tay ông ta. Tay tôi ấm áp, ông kêu lên: Ồ, sau bao nhiêu lâu, nay tôi mới được cảm thấy ấm áp của tình người”. Rồi mặt ông ta sáng lên. Ông ta không còn giống như lúc trước nữa. Cái nồng ấm của bàn tay con người là chuyện nhỏ, nhưng qua cái đó, ông ta cảm thấy có ai thực sự quan tâm tới ông, có ai thực sự săn sóc cho ông. từ trước, tôi chưa bao giờ để ý rằng: một việc nhỏ có thể đem niềm vui lớn cho người nào đó.
(Tham khao: Mother Teresa,One heart full of love edited by Jose Louis Gonzalez-Balado
Reaching out in Love by Edward Le Jolly and Jaya Chaliha)
28. NGƯỜI CÙI ĐAU KHỔ ĐƯỢC CHÚA THƯƠNG
Mẹ Têrêsa Calcutta thuật lại câu chuyện như sau: “Hôm ấy, tôi được mời đến thăm và ủy lạo
một số bệnh nhân phong cùi. Tôi đã nói với họ rằng: “Anh chị em hãy chấp nhận bệnh tật và những đau khổ của anh chị em như món quà của tình thương Chúa. Tất cả anh chị em là những người được Thiên Chúa kén chọn, để chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.”
Trong số những bệnh nhân phong cùi ngồi lắng nghe tôi nói, có một người ngồi sát chân tôi, tôi có cảm giác như ông đang giật gấu áo tôi và muốn nói với tôi một điều gì đó, tôi liền cúi xuống gần ông tỏ dấu hiệu tôi đang lắng nghe, ông mỉm cười nói nhỏ với tôi: “Xin Mẹ hãy lặp lại điều đó nhiều lần nữa đi, con sung sướng được biết là Chúa yêu thương con.” Mẹ Têrêsa kể tiếp: Hơn bao giờ hết, tôi cũng cảm thấy sung sướng được lặp đi lặp lại là Thiên Chúa đặc biệt yêu thương mỗi người bị phong cùi ấy, Người đã thương kén chọn họ để chia sẻ cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, Con của Người.”
29. CẦU NGUYỆN TIN TƯỞNG VÀ ĐAU KHỔ
Một lần, một nhà báo người Nhật đến nói với Mẹ:
- Tôi không tin Chúa.
- Mẹ nói: Xin ông qùi gối xuống và cầu nguyện: Lậy Chúa, con tin Chúa, con mến Chúa, con trông cậy Chúa, con ăn năn tội lỗi con đã phạm. Rồi làm vài việc nhỏ bé với lòng mến lớn lao.
Với một nữ tình nguyện viên đến nói với Mẹ rằng bà ta mất niềm tin. Mẹ đã đưa cho bà một cuốn sách kinh cầu nguyện. Ba tuần sau bà ta trở lại nói rằng, giờ đây bà tin.
Mẹ trấn an các sơ của Mẹ bằng đức tin và lòng trông cậy của Mẹ nơi Chúa. Mẹ không bao giờ nghi ngờ về ơn gọi của Mẹ và sự giúp đỡ của Chúa cho Dòng của Mẹ. Vào lúc đầu, Dòng khởi sự không có tiền, không có nhà, không có người tu, không chỗ dựa, không người giúp đỡ. Nhưng Mẹ nói: Từ ban đầu tới nay, tôi không bao giờ nghi ngờ đây không phải là việc của Chúa, do đó nó phải thành công, nhưng tôi không nghĩ nó sẽ bành trướng rất to tát. Tất cả đều là công việc của Chúa.
Mẹ tin vào Chúa Quan phòng, nên Mẹ từ chối nhận tiền trợ cấp hàng tháng cho các sơ của Mẹ tại Nữu Ước và tại Montreal. Mẹ sợ rằng, nếu nhận trợ cấp, các sơ sẽ mất đi lòng tin cậy Chúa, và niềm vui hoàn toàn cậy dựa vào Chúa Quan phòng.
Mẹ cũng ý thức rằng đức tin đem lại ý nghĩa cho sự đau khổ. Mẹ an ủi người đau khổ, Mẹ nói:” Đau khổ mở ra khoảng trống để Chúa đến và chứa đầy”. Khi chính Mẹ chịu đau khổ, Mẹ nói:” Chúa đã ban cho tôi ơn vĩ đại, Người gửi cho tôi đau khổ. Qua đau khổ, Mẹ dứt bỏ mọi an ủi của người đời, để hoàn toàn đón nhận sự hiện diện và hành động của Chúa Cha như Chúa Giêsu hấp hối trên thập giá xưa.
Mẹ bị 3 lần lên cơn đau tim dữ dội. Lần thứ nhất, nằm tại nhà thương Rôma một tháng. Lần hai, vào nhà dưỡng lão ở Calcuta 6 tuần. Khi bình phục, Mẹ lại đi đây đó diễn thuyết. Lần thứ ba, gần chết, khi khỏi bệnh, Mẹ lại đi Rôma và Hoa kỳ.
Trung tâm sứ điệp của Mẹ muốn nhắn gửi là Yêu thương: mến Chúa và yêu người. Mẹ nói:” Ta không thể tỏ tình yêu ta cho Chúa, Đấng ta không thấy và Người không thiếu của gì, nhưng ta có thể yêu mến và phục vụ những người chung quanh, ta có thể thấy và yêu mến họ như những con cái của Thiên Chúa.” “Không yêu thương nhau, gia đình không có hạnh phúc, thế giới không có hoà bình. Việc làm của tình yêu là việc làm của hoà bình”.
Trong những bài nói cũng như trong những thư từ, Mẹ khai triển hai nguyên tắc này: Sự Thánh thiện là tất cả và đức mến bắt đầu từ trong gia đình.
Mẹ nói: Khi tôi nói đến sự Thánh thiện, nhiều người lạ lùng, họ nghĩ sự Thánh thiện chỉ dành cho linh mục, tu sĩ, những người sùng đạo. Tôi giải nghĩa cho họ, Thánh, nghĩa là làm cách trọn hảo ơn gọi của mình, một bác sĩ, giáo sư, một thương gia, một nông gia, một bà nội trợ, một học sinh, sinh viên đều được kêu gọi nên Thánh tuỳ theo chức phận trong cuộc sống của họ...
Hạnh phúc trong gia đình tuỳ thuộc phần lớn nơi người Mẹ. Bà là trái tim của gia đình. Bà phải ban ra lời khuyên thực tế cho gia đình hạnh phúc, đó là “nụ cười”.
Sau gia đình là đến hàng xóm, nơi có những người nghèo, những người bị bỏ rơi...hãy đi thăm họ, hãy tươi cười với họ”. Tươi cười khi thăm người nghèo, dù không có gì đem cho họ. Hãy cười với họ, cười đâu có mất gì.”
30. CẦU NGUYỆN
Một người hỏi Mẹ Têrêsa:
- Khi phải nói, Mẹ đã chuẩn bị thế nào?
- Mẹ nói: Tôi lấy ngón tay vẽ hình Thánh giá trên môi, tôi đứng lên, nhìn thẳng về phía khán giả, rồi tôi nói. Trong 4 chục năm, Mẹ đã nói trong nhiều dịp, trong nhiều nơi trên thế giới, với nhiều lớp người, thuộc nhiều tôn giáo. Mẹ nói cách cụ thể, nhắm thẳng vào hoàn cảnh sống của những người nghe. Mẹ không dùng giấy tờ gì cả, đôi khi Mẹ kể một vài câu chuyện Mẹ đã gặp, đã kinh nghiệm, vắn thôi, không quá dài...
Nhiều lần, Mẹ Têrêsa cho nhét vào các lá thư của Mẹ một tấm thiệp nhỏ viết như sau:
“Không cầu nguyện thì không có đức tin,
Không có đức tin thì không có tình mến,
Không có tình mến thì không có phục vụ,
Không có phục vụ thì không có niềm vui, không có bình an.”
Đó là 4 bước căn bản: Cầu nguyện - Đức Tin - Tình mến - Phục vụ. Kết quả là niềm vui nội tâm và hòa bình trong xã hội. Để đạt được kết quả này, điều kiện tiên quyết là: Cầu nguyện đòi thinh lặng bên trong và bên ngoài. Thinh lặng con mắt, thinh lặng lỗ tai, thinh lặng tâm trí, thinh lặng tưởng tượng. Người ta phải tự tập trung, mở lòng cho sự soi sáng của Chúa. Thinh lặng bên ngoài từ những ồn ào của thành thị, đòi người ta tìm một góc thinh lặng trong căn phòng hay trong công viên.
Thiên Chúa nói trong thinh lặng của tâm hồn. Nếu bạn đối diện với Chúa trong thinh lặng và cầu nguyện, Thiên Chúa sẽ nói với bạn”. Để thực hành sự thinh lặng bên trong thực sự, cần theo các bước sau:
Thinh lặng của mắt: bằng cách tìm kiếm vẻ đẹp và sự tốt lành của Thiên Chúa ở mọi nơi; và đóng lại trước những sai lỗi của người khác, trước những tội lỗi và tất cả những gì có thể gây rối loạn cho tâm hồn.
Thinh lặng của tai: bằng cách lắng nghe tiếng nói của Chúa, tiếng kêu than thống thiết của người nghèo, người túng quẫn; và đóng lại trước những lời nói thiếu bác ái, nói chuyện không tốt của người khác.
Thinh lặng nơi lưỡi: bằng cách luôn ca ngợi Chúa và nói những lời mang lại sự sống của Người; kiềm chế hãm lại những sự tự vệ và tất cả những lời nói gây ra sự tối tăm, rối loạn, đau khổ và chết chóc.
Thinh lặng trong trí: bằng cách mở ra trước sự thật và sự hiểu biết về Chúa trong sự cầu nguyện và chiêm niệm; và đóng lại trước những sự giả dối, điên cuồng, những ý nghĩ phá đổ, phán đoán bừa bãi, những hoài nghi sai lầm về người khác và những ý nghĩ cùng ước muốn trả thù.
Thinh lặng trong trái tim: bằng cách yêu mến Chúa hết tâm hồn, hết trí khôn và hết sức lực, và yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương họ; tránh tất cả những sự ích kỷ, hận thù, tham vọng, ghen ghét và tham lam”.
“Nơi công cộng, Mẹ không ngừng lặp lại lời mời dân chúng cầu nguyện. Một lần họp với các quốc trưởng và nhiều nhà thủ lãnh, Mẹ được mời cầu nguyện mở đầu. Hai lần quan trọng khác, tại Oslo khi Mẹ nhận tới nhận giải thưởng Nobel, và tại Nữu Ước, tại phòng họp của Liên Hiệp quốc, dịp kỷ niệm 40 năm thành lập. Mẹ mở đầu việc cầu nguyện bằng lặp lại lời kinh hòa bình của Thánh Phanxicô Khó nghèo. Bạn hữu của Mẹ phân phát tờ giấy in lời kinh như đã chuẩn bị trước.
“Mẹ cổ võ gia đình cầu nguyện như là phương cách để giữ gia đình hợp nhất và hạnh phúc. Mẹ thường nhắc lại câu nói của linh mục Peyton: “Gia đình cầu nguyện, gia đình liên kết”. Mẹ coi lời này như của Mẹ và đi đâu Mẹ cũng nhắc nhớ cho các gia đình.
Lm. Đoàn Quang, CMC

Quá khứ không thể xóa được

Đó là sự thật rất là đau lòng nếu chúng ta chọn cuộc sống bê tha, thiếu bổn phận và trách nhiệm; nhất là làm bậc cha mẹ.
Nói cho ngay thì trên đời này ai là tốt lành bao giờ!?. Ai cũng trải qua những quá khứ mà không thể gột rửa hay tẩy sạch cho được. Cũng như thời hiện đại của ngày nay, tất cả những emails, hình ảnh, text trên cell phone, dù chúng ta đã tẩy xóa sạch; nhưng thưa anh chị em, tất cả những chứng từ (information) ấy đã được lưu trữ tại một tổng đài mà bất kỳ lúc nào chúng ta có giây dưa rễ má đến tội phạm nào đó! Thì luật pháp sẽ dùng tổng đài ấy mà truy ra tất cả những gì mà anh chị em đã emails, text, và gởi hình ảnh đi cho nhau.
Vâng, khối óc của con người chúng ta chúng cũng đã ghi nhận tất cả từ khi chúng ta có trí khôn. Anh chị em cứ tưởng rằng đầu óc của một đứa trẻ nít từ 3 tuổi đến 6 tuổi, chúng không biết ghi nhận ư?. Quả là chúng ta thật sai lầm khi làm những điều thật tội lỗi trước mặt chúng.
Tuổi non nớt tuy chúng chưa biết suy nghĩ gì để mà biết chúng ta đang phạm tội, nhưng hình ảnh chúng ta làm, đã được ghi rất rõ; vì con mắt là máy chụp hình và là máy quay phim của chúng. Sau này khi trí khôn được tăng trưởng thì những hình ảnh xấu ấy được chúng rewind trở lại để đánh giá chúng ta.
Tôi có một chị bạn rất thân đã có những quá khứ không tốt lành gì của bà mẹ chị ta. Chị cũng chẳng trách móc gì về cuộc đời và quá khứ không tốt lành gì của mẹ. Vì đó là cuộc đời riêng của mẹ chị ta. Nhưng chị ước rằng phải chi khoảng thời gian ấy Chúa đừng cho chị có ánh sáng, để chẳng ghi nhận và nhìn thấy gì mẹ chị ta đã làm. Mẹ chị cứ tưởng rằng con nít non nớt ấy mà biết cái gì. Sự thật thì chị bé quá chị ta có biết mẹ mình đang làm cái gì đâu!.
Nhưng cái máy quay phim của chị không ngừng quay tất cả những gì mà chị nhìn thấy!. Thuở nhỏ chị chỉ nhớ rằng quái sao mình có nhiều cha quá! Vì mẹ bắt chị cứ phải kêu họ là cha, và chị chỉ biết phải tuân theo những gì mẹ chị đã bắt chị. Mẹ chị thì cứ nghĩ rằng con mình ngây thơ chẳng biết gì; chỉ tội nghiệp cho chị vì còn nhỏ nên mẹ đi đâu phải neo theo chị ở đó! Nhưng cũng không biết bao nhiêu lần chị bị mẹ bỏ mà giao cho biết bao nhiêu người trông giữ chị. Đàn bà có, đàn ông có, thanh thiếu niên có, và tùy theo ngắn hạn hay dài hạn.
Mẹ chị xưa kia đi buôn, vì chồng chết sớm, nên cuộc đời sống rất buông thả chẳng biết giữ mình là gì. Ông nào đến thì mẹ chị đều tiếp rước. Trải qua bao nhiêu cuộc tình và sau cùng nhất là mẹ chị đã có hai người con. Và chị là con cả của người cha đó! Lý do giữa hai cha mẹ ra sao thì chị không được biết nhưng chị chỉ biết rằng chị còn người em gái kế đã không hên được như chị.
Mẹ chị túng kế vì không đủ tiền lo cho hai con, nên đã cho em chị vào Cô Nhi Viện, và đã chết sau đó! Lý do bệnh nặng không chữa trị được.
Cuộc đời của chị cứ thế lớn theo với thời gian và cũng theo với vận của đất nước. Chị đã bỏ quê hương năm 75 theo người chị cùng cha khác mẹ đến xin nhập tịch ở cái Nước Mỹ này cũng gần 37 rồi. Cuộc đời sống bên Mỹ của chị cũng chẳng thong dong gì vì học thì không nổi vì tiếng anh rất kém. Lấy chồng sớm vì thân phận bơ vơ trên xứ người cần cái phao để bám víu cho qua ngày, nhưng rồi thấy rằng nơi đó không cho chị hạnh phúc thật sự.
Chị lại bước một bước nữa! Lần này thực sự là sự lựa chọn của chị có trong có đục, có mười hai bến nước, chị cũng sẵn sàng mà đón nhận nó.
Mẹ của chị cuối cùng rồi cũng được sang Mỹ theo diện bảo lãnh. Chồng chị là người chồng rất tốt, khuyên răn chị mãi là hãy nên bỏ quá khứ sang một bên mà nhận mẹ trong sự bỏ qua, tha thứ, và yêu thương; vì bà đã già rồi! Sống nay chết mai. Chị bảo chồng rằng quá khứ chị không tẩy xóa được. Vì yêu Chúa nên chị đã tha thứ và bỏ qua tất cả! Bằng chứng là chị chẳng bao giờ đếm xỉa đến quá khứ của bà; để trách móc hay hỏi han gì người cha của chị mà chị chưa từng được biết mặt. Chị ráng đi thăm bà một tháng một lần. Chị ráng cố gắng gần bà cụ, nhưng hình như trái tim của bà vẫn nguội lạnh và băng giá khi chị có cố gắng.
Quả thật thưa anh chị em, tình cảm thì tiền của không bao giờ có thể mua được đâu! Nên xin tất cả những ai đang có thiên phước được làm cha làm mẹ, hãy tạo thời gian mà gần gũi với con cái của mình. Tạo cho chúng sự gần gũi và yêu thương nhất là trong giai đoạn khi chúng còn trong sự bảo bọc của mình.
Khi lớn khôn rồi chúng chẳng cần đến mình đâu có khi chúng còn trách móc mình nữa đó! Lúc bấy giờ anh chị em liệu lời mà trả lời cho chúng. Cái cảm thấy tội nghiệp (feeling guilty) của mình đối với các con mà đổi chúng thành tiền, quà cáp, và những gì chúng đòi hỏi, là sai lắm đó!. Quan trọng nhất là chúng ta đã làm gương mù gương xấu cho chúng trẻ noi theo, để chúng lại tiếp nối bắt chước những tội lỗi chúng ta đã gây ra!. Hy vọng chúng ta đừng làm con sâu để làm một nồi canh bị hư, và đầu độc cả một thế hệ sau này!.
Quá khứ tội lỗi của chúng ta, chúng luôn là những lý lịch của một tội phạm hay là một tội nhân, mà quan tòa của chúng ta không ai khác chịu chính là lương tâm phán đoán của chúng ta. Nếu chúng ta là một tội nhân, bị bắt đem ra tòa xét xử, và bị kết án bao nhiêu năm, thì có lẽ lương tâm của chúng ta được phần nào vơi bớt vì chúng ta đã trả những gì chúng ta làm?. Nhưng tội lỗi do chúng ta gây nên, tác hại đến người khác, cả tương lai của chúng trẻ thì tòa lương tâm của chúng ta, không cho chúng ta một ngày ngơi nghỉ; nhất là tội phá thai phải không thưa anh chị em????. Mỹ có câu nhảy đầm điệu Tango cần phải có hai người. Một người không thể nào gây được cái tội, nếu không được sự chấp thuận của người kia.
Nhân nói về quá khứ tội lỗi, tôi xin tất cả anh chị em cầu nguyện với tôi (SOS) cho một thai nhi đang cần sự quyết định của cha mẹ không trách nhiệm của chúng gây ra. Bạn gái của con gái tôi đang mang thai được 10 tuần. Cả hai đứa chúng là đạo Phật, đang quyết định đi phá thai để không gián đoạn chuyện học hành và tương lai của chúng. Hy vọng lời cầu nguyện của tất cả mọi người sẽ giúp cho hai chúng suy nghĩ lại và giữ thai nhi vô tội ấy!. Xin Thiên Chúa chúc lành cho họ và thai nhi được cơ hội làm người như tất cả chúng ta đây, vì sinh linh đó là tác tạo của Chúa dựng nên trong tình yêu thương vô bờ của Chúa.
Tuyết Mai